Lịch sử phong trào Nông dân và Hội Nông dân tỉnh Cà Mau từ năm 1930 - 2000
Nhằm ghi lại những công lao thành tích của người dân Cà Mau nói chung và nông dân Cà Mau nói riêng trong quá trình đấu tranh bảo vệ xây dựng mãnh đất Cà Mau phát triển, đồng thời góp phần giáo dục tuyên truyền cho thế hệ trẻ, con em nông dân và cán bộ, hội viên, nông dân nhận thức sâu sắc, tự hào với truyền thống của giai cấp nông dân và hội viên nông dân Cà Mau mai sau. Ban Thường vụ Hội Nông dân tỉnh giới thiệu cuốn Lịch sử phong trào Nông dân và Hội Nông dân tỉnh Cà Mau từ năm 1930 - 2000.
LỜI NÓI ĐẦU
_____________
Cà Mau là tỉnh cực Nam của Tổ quốc thuộc bán đảo Cà Mau, được hình thành do phù sa bồi đắp của sông Mêkông. Đất này xưa kia chủ yếu là rừng ngập nước bao gồm hai loại chính là rừng tràm và rừng đước.
Đến cuối thế kỷ XVII bắt đầu có những nhóm cư dân đầu tiên đến sinh sống, nhưng vẫn còn thưa thớt nên họ thường tập hợp lại sống theo ven sông thành những xóm làng đầu tiên ở Cà Mau, bao gồm 03 dân tộc chính: Kinh, Khmer, Hoa (trong đó người Kinh chiếm đa số).
Trong quá trình khai hoang, mở đất người nông dân Cà Mau phải đấu tranh gian khổ với cảnh rừng thiên nước độc, thú dữ để mưu sinh tồn tại và phát triển đã hình thành nên tính cách riêng biệt của người Cà Mau vừa cần cù, lam lũ nhưng phóng khoáng chịu chơi, chân thật hiền hòa nhưng đầy khí phách, dũng cảm hiên ngang, giàu lòng nhân ái, đoàn kết yêu thương đùm bọc lẫn nhau nhưng vẫn giữ được cái nét chung của hơn bốn ngàn năm lịch sử của dân tộc Việt Nam đó là tình yêu quê hương đất nước.
Và tinh thần yêu nước nồng nàn của dân tộc dù ở bất cứ nơi đâu, dù già hay trẻ, dù nam hay nữ mỗi khi đất nước bị xâm lăng đều nhất tề đứng lên chống giặc để giữ nước.
Chính vì vậy, trong suốt hơn một trăm năm đấu tranh chống bọn thực dân và đế quốc, đất và người Cà Mau đã trở thành căn cứ địa cách mạng, nơi cung cấp của cải vật chất và con người cho cách mạng, nơi chở che nuôi giấu rất nhiều cơ quan của Trung ương cục miền Nam và khu Tây nam bộ.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, tổ chức Hội Nông dân được hình thành ở Cà Mau và được thể hiện vai trò nhiệm vụ của mình tập hợp nông dân Cà Mau đứng lên đi theo Đảng làm cách mạng đấu tranh giải phóng dân tộc, đóng góp một phần công sức máu xương của mình cho sự nghiệp chung của cách mạng Việt Nam.
Nhằm ghi lại những công lao thành tích của người dân Cà Mau nói chung và nông dân Cà Mau nói riêng trong quá trình đấu tranh bảo vệ xây dựng mãnh đất Cà Mau phát triển, đồng thời góp phần giáo dục tuyên truyền cho thế hệ trẻ, con em nông dân và cán bộ, hội viên, nông dân nhận thức sâu sắc, tự hào với truyền thống của giai cấp nông dân và hội viên nông dân Cà Mau mai sau; Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy về tổ chức, triển khai biên soạn lịch sử của các địa phương, các sở, ban, ngành, mặt trận và các đoàn thể. Ban Thường vụ Hội Nông dân tỉnh Cà Mau quyết định thành lập Ban Chỉ đạo biên soạn cuốn lịch sử phong trào nông dân và Hội Nông dân tỉnh Cà Mau từ năm 1930 đến năm 2000. Mặc dù quá trình biên soạn chúng tôi đã có nhiều cố gắng trong việc sưu tầm tư liệu, song chắc chắn sẽ không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Vì vậy, chúng tôi rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của nhiều người để khi tái bản sẽ đầy đủ hơn, chính xác hơn.
Ban Thường vụ Hội Nông dân tỉnh cùng Ban Chỉ đạo biên soạn lịch sử phong trào nông dân và Hội Nông dân xin chân thành cảm ơn các bậc lão thành cách mạng, các đồng chí lãnh đạo Hội Nông dân qua các thời kỳ, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Cà Mau, các thành viên tham gia biên soạn đã nhiệt tình giúp đỡ để cuốn lịch sử phong trào nông dân và Hội Nông dân Việt Nam tỉnh Cà Mau được hoàn thành./.
BCH HỘI NÔNG DÂN TỈNH CÀ MAU
PHẦN I
CÀ MAU – VÙNG ĐẤT
BẤT KHUẤT, KIÊN CƯỜNG
CHƯƠNG I
CÀ MAU ĐỊA LÝ, HÀNH CHÍNH VÀ
CÁC CUỘC ĐẤU TRANH TRONG THỜI KỲ CHỐNG PHÁP
TRƯỚC KHI ĐẢNG RA ĐỜI
I. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ HÀNH CHÍNH, DÂN CƯ
Cà Mau là tỉnh cực Nam Tổ quốc, thuộc bán đảo Cà Mau, phía Đông giáp tỉnh Bạc Liêu, phía Tây giáp Vịnh Thái Lan, phía Nam giáp biển đông, phía Bắc giáp tỉnh Kiên Giang. Cà Mau nằm trong vùng kinh tế động lực của đồng bằng Sông Cửu Long; nằm trong hành lang phát triển phía Nam của tiểu vùng Mê Kông mở rộng.
Diện tích 5.329,5 km2 (bằng 13,13 diện tích đồng bằng Sông Cửu Long, bằng 1,58% diện tích cả nước); diện tích đất nhiễm phèn chiếm khoảng 60%, đất nhiễm mặn khoảng 33%, đất bãi bồi khoảng 1,5%, đất than bùn 1,6%…Cà Mau là vùng đất trẻ có sự bồi lắng từ Rạch Mũi đến Tiểu Dừa (biển Tây) và xói lở từ Rạch Gốc đến Gành Hào (biển Đông). Do đặc trưng thổ nhưỡng và chế độ thủy triều, đã hình thành: Vùng nước mặn, vùng nước lợ, có hệ sinh thái mặn, ngọt; (nguồn nước ngọt chủ yếu là nước mưa, nước ngầm); rất thích hợp cho việc phát triển Ngư – Lâm nghiệp, đa dạng hệ cây trồng, vật nuôi. Đất nông nghiệp 147.708 ha, đất lâm nghiệp 114.150 ha (chủ yếu là rừng ngập nước); với hệ thống sông ngòi, kinh rạch dày đặc (tổng chiều dài 18.000 km).
Cà Mau 3 mặt giáp biển với chiều dài 254 km (bằng 7,8% so với chiều dài bờ biển của cả nước); phía Đông tiếp giáp với biển Đông có chiều dài 107 km, phía Tây nằm trong vịnh Thái lan giáp với tỉnh Kiên Giang có chiều dài 147 km). Tổng diện tích vùng biển trên 70.000 km, có trữ lượng hải sản và đa dạng về chủng loại, có trữ lượng dầu khí lớn, có 3 cụm đảo ven bờ với diện tích 753,3 ha (cụm đảo Hòn khoai, cụm đảo Hòn chuối, cụm đảo Hòn đá bạc).
Cà Mau hiện có 9 đơn vị hành chính cấp huyện, thành phố; 101 đơn vị xã, phường, thị trấn(1). Dân số trên 1,2 triệu người (có 293.675 hộ); cư dân nông thôn chiếm 78,45%; có nhiều dân tộc anh em chung sống (trong đó có 3 dân tộc chiếm số đông là người Kinh, người Khmer, người Hoa).
Là tỉnh có nhiều tôn giáo và giáo phái; hai tôn giáo ra đời sớm nhất có tín đồ đông nhất, là đạo Phật và Thiên chúa; các tôn giáo khác ra đời muộn hơn như: Cao Đài, Tin Lành; các giáo phái gồm có: Minh Chơn Đạo, Tiên Thiên, Tây Ninh, Thiên Lâm, Tịnh độ Cư sĩ, Khất sĩ, Ni giới Việt Nam; Cà Mau có hơn 100 chùa, nhà thờ, thánh thất.
II. QUÁ TRÌNH ĐỊNH CƯ, KHẨN HOANG, LẬP LÀNG
Cà Mau là vùng đất đầm lầy hoang vu; cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, một bộ dân cư gồm người Kinh, người Khmer, người Hoa đến khai hoang, sống theo ven sông và các gò cao
Cà Mau xưa có rất nhiều lâm tẩu (rừng tràm, rừng sát), U Minh bao la cả một khu vực rộng lớn, rất nhiều tràm, mốp, mậc cậc, dừa nước, choại, dớn và các loại cây ăn trái khác; đến mùa tràm trổ bông, ong kéo đến rợp trời, hút nhụy và làm tổ. Những làng làm nghề gác kèo ong ngày xưa gọi là “Thuộc hoàng lạp”, tức những làng được miễn các khoản thuế, chỉ nộp sáp ong vàng(3). Dân ăn ong hình thành các tổ chức phong ngạn, thích huyết ăn thề và giúp đỡ bảo vệ nhau; kỹ thuật trong nghề gác kèo ong khá tinh vi, phức tạp; những kinh nghiệm làm nghề được cha truyền - con nối và từng bước phát triển thành nghề sống chính của dân cư. Cà Mau xưa có rất nhiều chim muông, thú dữ (sân chim gọi là Điểu đình); những sân chim nổi tiếng như: Chắc Băng, Chà Là. ...với nhiều chủng loại như: chim sen, hàng bè, lông ô, gà đẩy, le le, bồ nông, cúm núm, bìm bịp, cò, diệc, vạc, trích, sáo, dơi… Rừng ngập mặn mênh mông, phù hợp với các loại cây mắn, đước, vẹt, cóc, dá…
Đến năm 1836, vua Minh Mạng cử Trương Đăng Quế và Trương Minh Giảng lập Địa bạ Nam kỳ lục tỉnh. Toàn tỉnh Hà Tiên gồm Cà Mau – Bạc Liêu làm xong và kiểm thực vào ngày mùng 3 tháng 6 năm Minh Mạng thứ 17. Hai người có công khai phá ở vùng đất Cà Mau là ông Trần Thanh Nhàn 62,4 mẫu và ông Trần Quang Xuân 69,9 mẫu; hai chủ ruộng này được kể là bậc tiền hiền, có công khai phá vùng đất Cà Mau ngày nay(1). Huyện Long Xuyên (Cà Mau) thực canh 1.935 mẫu, có chủ điền lớn là Nguyễn Văn Cường (thôn Tân Hưng) sở hữu 80 mẫu; Năm 1833 tiền hiền Nguyễn Văn Đức lập xã Viên An(2); năm 1845, ông Tạ Phú Cường lập ấp Nhà Cũ; năm 1853, ông Nguyễn Công Chánh lập xã Tân Ân…
Cuộc khẩn hoang trên vùng đất Cà Mau được mở rộng dưới thời Vua Tự Đức (1852). Kinh lược sứ Nguyễn Tri Phương là người trực tiếp chỉ đạo việc khẩn hoang này. Lệ khẩn hoang nêu rõ: “Từ binh sĩ đến những người có án tù tội, ai muốn khẩn hoang sẽ được cấp tiền và phương tiện. Đất đã xin khẩn hoang mà chưa khẩn, chưa làm ruộng, trốn thuế thì sẽ giao cho người tố giác làm chủ, ghi vào bộ sổ. Nếu đất trước đó có canh tác, có đóng thuế nhưng lại bỏ hoang sẽ phạt 3 quan mỗi mẫu, đất không bị tịch thu”. Những nông dân thiếu vốn sản xuất khi vào các đồn điền khẩn hoang được miễn thuế và được trợ cấp tiền để làm mùa
Ở Nam kỳ lục tỉnh, Nhà nước khuyến khích lập làng để thúc đẩy khẩn hoang, thu thêm thuế đinh, thuế điền. Quan Bố Chánh là người nhận đơn và chỉ cần biết rõ ranh giới làng mới, tên tuổi của dân lập làng.
Quá trình khẩn hoang, lập làng là quá trình lao động vô cùng gian khổ, phải đương đầu chống chọi với thiên nhiên, thú dữ và bệnh tật. Người Nông dân phải phá rừng trồng rẫy, trồng lúa; để bảo vệ được mùa màng phải làm hàng rào chống heo rừng và số loại muôn thú. Mùa nước lũ, nhiều gia đình phải làm nhà sàn cách xa bờ để tránh rắn rít và heo, cọp
Dù sống rãi rác theo các triền sông, con rạch nhưng bà con nông dân đã tập hợp nhau lại thành từng khóm, từng nhóm, vừa nương tựa, vừa giúp đỡ nhau; những thôn xóm định canh, khẩn hoang sớm như: khu vực Cái Tàu, Ông Đốc, Bảy Háp, Đầm Chim, Gành Hào…
III. THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC, CƯỚP ĐẤT NÔNG DÂN
Ngày 01 tháng 9 năm 1858, liên quân Pháp và Tây Ban Nha tiến công Đà Nẳng mở màn cuộc xâm lược chiếm đất nước ta; ngày 24 tháng 6 năm 1867, thực dân Pháp chiếm tỉnh Hà Tiên, tỉnh cuối cùng của Nam kỳ lục tỉnh.
Ngày 18 tháng 12 năm 1882, Tỉnh Bạc Liêu được thành lập (gồm Bạc Liêu - Cà Mau). Tham biện Pháp Lamothe de Carrier làm chủ tỉnh; cơ quan đầu não đặt tại Bạc Liêu.
Sau khi dập tắt các cuộc khởi nghĩa ở Nam kỳ, để tiến hành khai thác vùng đất Bạc Liêu; thực dân Pháp cho đào kinh Quản Lộ - Phụng Hiệp (năm 1901), dài 140 km (đoạn Bạc Liêu - Cà Mau 48,5 km). Năm 1915, Pháp dùng xáng mở rộng kinh đào Bạc Liêu - Cà Mau, dài 66 km; khu vực Cà Mau chúng cho đào kinh xáng Đội Cường, nối sông Gành Hào với sông Bảy Háp; kinh xáng Cái Keo, sông Bảy Háp với sông Đầm Dơi; kinh xáng Cái Ngay, nối sông Bảy Háp với sông Cửa Lớn; kinh xáng Chắc Băng nối sông Trẹm với Ranh Hạt (Vĩnh Thuận – Kiên Giang); kinh xáng Bà Kẹo nối sông Ông Đốc với sông Mỹ Bình – Đầm Bà Tường. Ngoài ra, còn đào một loạt kinh khác như: Biện Nhị, Thợ Mai, Chợ Hội, Huyện Sử, Tắc Vân...
Đào xong các con kinh, đại bộ phận đất ngập úng ở Cà Mau được cải tạo (ngăn mặn, xổ phèn), trên 350.000 ha đất hoang hóa trở nên màu mỡ. Cà Mau - Bạc Liêu trở thành tỉnh có diện tích trồng lúa lớn ở Nam kỳ. Nông dân các nơi đổ về Bạc Liêu - Cà Mau lập nghiệp; Bà con tự dựng nhà theo các bờ sông, bờ xáng, tự cắm cọc chiếm lấy phần đất để khai phá làm ruộng, trồng rẫy, không cần đến thủ tục pháp lý... Lợi dụng tình hình đó, dựa vào thế lực và luật lệ thực dân, một số người Pháp, Việt, Hoa, Ấn, Nhật có tiền của, nộp đơn, nộp tiền, xin trưng khẩn, vì theo “Họa đồ”, những phần đất này đều vô chủ; khi nông dân khai khẩn xong, trên bộ sổ đất đó thuộc quyền của địa chủ, họ mướn người đắp thổ mô, cắm trụ đá, xác định ranh giới đã bao chiếm; nông dân mất hết đất, phải mướn đất của địa chủ, dù đất đó do chính bản thân mình đổ mồ hôi, sôi nước mắt khai khẩn qua bao đời...
Đầu thế kỷ XX, nhiều địa chủ ngoại quốc đến Cà Mau thành lập đồn điền như: Patisti (Tân Hưng); Kanu (Tân Duyệt); Mesépa, Compo (Tân Hưng Đông); Tây Công Ty (Quách Văn Phẩm); Điền Nhựt Bổn (Khánh An), họ đã bao chiếm hàng trăm nghìn ha đất....Các địa chủ người Việt, người Hoa như: Trần Trinh Trạch bao chiếm 145.000 ha ruộng lúa; Vưu Tụng 75.000 ha; Châu Oai 45.000 ha.
Đến những năm 1920 – 1930, số địa chủ chỉ chiếm 2% dân số, nhưng chiếm hữu 95% đất đai; còn nông dân 90% dân số nhưng lại không có đất hoặc chỉ có rất ít ruộng đất, phải làm tá điền hoặc cày thuê, cuốc mướn cho điền chủ.
IV. NÔNG DÂN ĐẮM CHÌM TRONG KIẾP NÔ LỆ LẦM THAN
Từ thuở khẩn hoang, Nông dân đã chịu nhiều cay đắng, thiệt thòi. Năm 1836, Trương Minh Giảng và Trương Đăng Quế dâng sớ tâu với triều đình “… Nam kỳ chất chứa tệ hại đã lâu, cường hào cậy mạnh bá chiếm, người nghèo không đất cắm dùi…”.... Triều đình Nhà Nguyễn quy định dân đinh (đàn ông con trai) phải ghi tên vào bộ sổ để chịu thuế; dân nghèo không tiền đóng thuế nên chỉ có điền chủ mới ghi tên, còn lại là “dân lậu”.
Lịch sử khẩn hoang miền Nam ghi: Người giàu (bá hộ) cho người đi khẩn đất vay tiền, vay lúa với mức lời trên 50% mỗi vụ lúa (thời gian không đầy năm kể từ khi phát, cấy đến gặt lúa); ngoài việc ruộng nương, chủ điền còn bắt tá điền chèo ghe, sửa nhà, đắp bờ, đào mương, phát vườn… khi đau yếu, bệnh hoạn, vợ con phải làm thay thế, trừ nợ, “Cảnh ở đợ nát đời, ở đợ dài hạn suốt đời có từ lâu…”. Nhiều người nghèo bị đuổi khỏi làng, làm dân lậu làng mới, biết bao cảnh “Sinh vô gia cư, tử vô địa tán”, dân lậu không có tên trong bộ sổ, không được nhận là dân, luôn bị mất quyền lợi và bị ức hiếp…. Từ thời phong kiến đến đời thực dân, giữa chủ điền và tá điền không có qui định rõ mức lúa ruộng, không có tỉ lệ hoặc giá biểu nào cả, tuy nhiên địa tô thông thường chiếm từ 30 – 50 % sản lượng lúa của tá điền.
Bọn cường hào, điền chủ ở Cà Mau đối với nông dân vô cùng thậm tệ: mỗi tên điền chủ đều thuê “Cọp rằn” (tuần khạo) để tuần tra, canh giữ; ai vi phạm những qui định của chúng đều bị tuần khạo phạt vạ hoặc đánh đập; khi đến mùa, muốn gặt lúa phải bẩm báo trước; lúa gạo của nông dân muốn bán ra khỏi điền phải xin phép; mỗi hộ nông dân được phép sắm một cần câu, ai đem cá bán đều bị bắt. Nông dân vào làm tá điền phải vay lúa của địa chủ với lãi suất 20/20 (tức 100%); nếu thiếu hụt phải vay “lúa non” (tức lấy bạc lúa giá rẻ mạt) hoặc lấy tiền công làm thuê vào vụ sau; nếu không có lúa trả, thì lãi phải nhập vào vốn hoặc làm “ruộng giao” (sau khi cày cấy xong, phải giao cho địa chủ gặt hái để trừ nợ). Với cách bóc lột như vậy, người nông dân dù phải lao động suốt đời, dù phải quanh năm suốt tháng “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”, dù phải vét hết sân lúa sau mỗi vụ vẫn không sao trả hết nợ cho địa chủ.
Nhiều tên điền chủ rất hung ác, tàn bạo đối với nông dân như: tên Chevetxi (Tân Hưng Tây) ra lệnh đánh đập những ai vào điền của hắn, ông Sáu Danh bị bệnh không ra ruộng được, cũng bị hắn đánh đập khi ông còn nằm trên giường bệnh; tên tuần khạo Phương tại điền Tây Công Ty (xã Quách Văn Phẩm) bắt chị The, một phụ nữ đang mang thai vì tội lén câu cá, Tây Công Ty ra lệnh đào một lỗ đất, úp bụng chị xuống đánh 20 roi; tên địa chủ Trần Trạch Trinh ở Bờ Đập và Xã Xoáy ở Chà Là (xã Trần Phán) rất tàn ác, bất kỳ ai vào điền câu cá, khi bị bắt đều bị đánh chưởi và bắt phải quì lạy mặt đập, xuồng bị cưa hai, bỏ lại trong đập phân nửa. Anh Lê Văn Bảy, tá điền của Trần Trạch Trinh vợ đang sanh, nhà nghèo, anh lén vào điền câu vài con cá đem về kho cho vợ, khi bị bắt Trần Trạch Trinh ra lệnh đánh gãy mấy be sườn rồi cho bỏ lên xuồng đẩy vô đám bồn bồn.
Thực dân Pháp tìm mọi cách bóc lột nhân dân đến tận xương tủy. Ngày 15 tháng 11 năm 1880, thống đốc Nam kỳ Le Myre De Viler qui định cách đánh thuế ruộng và thuế thân ở Nam kỳ; thuế thân đánh bình quân vào đầu người, qui định 1 đồng/người/năm. Ngày 15 tháng 12 năm 1897, toàn quyền Đông Dương lại ra qui định những người khỏe mạnh không tàn tật đều phải đóng thuế thân. Đến năm 1900, chúng lại ra lệnh mọi người Việt Nam từ 18 - 60 tuổi đều phải đóng thuế thân; giá thuế thân sau này lên đến 4 đồng, rồi 4,5 đồng/người/năm; ngoài ra, hàng năm mỗi người phải chịu từ 5 ngày đến 10 ngày làm xâu (sưu), có thể đóng bằng tiền, những người ở xa đến phải đóng thuế dân ngụ......hầu hết nông dân đều không đóng nổi thuế thân, khi lính mã tà vào làng xét bắt, họ chạy trốn vào rừng, mất quyền công dân. Người bị tội thiếu thuế thân phải ở tù 5 ngày với 15 quan tiền phạt; khi mãn hạn tù, ai không có tiền đóng thuế phải làm “Cu ly” cho Nhà nước Pháp, lấy tiền bù vào.
Cuộc đời của những nông dân sống bằng nghề rừng, nghề biển càng thậm tệ; khu vực rừng tràm U Minh, chúng cho đào kinh Zéro nối sông Cái Tàu với sông Trẹm; từ kinh Zéro Đất Sét (ngọn Cái Tàu) chúng cho đào 25 con kinh (từ ven sông Cái Tàu vào rừng 390) mỗi kinh cách nhau 1 km cắt vào kinh kiểm lâm như một bàn cờ; hàng năm, chúng mở cúp khai thác tràm, mốp và choại, mậc cậc, cá, than bùn… Năm 1927, sau khi đào xong kinh xáng Chắc Băng (Thới Bình), tên tư bản người Pháp Eméry Antenie thành lập công ty khai thác rừng miền Tây gọi là Socété d Exploitation Forestiére l ouest, gọi tắt S.E.F.O (dân ta thường gọi SêFô), chuyên kinh doanh lâm sản khu vực U Minh thượng, U Minh hạ. Trên đoạn sông Trẹm - sông Cái Tàu, chúng mướn đào kinh vào rừng để khai thác tràm, mốp…khi mướn đào kinh, chúng sử dụng “tấc lơi, 1m = 1,1m” (tức là khi đào 110 m kinh, chỉ được trả tiền công 100m), đối với nông dân khai thác gỗ chúng cũng tính bằng tấc lơi (nộp 110 ste gỗ, chỉ được trả tiền công 100 ste). Đó là chưa kể trường hợp chúng không trả bằng tiền, mà trả bằng “Bông” biên lai tạm, số tiền này được trừ ngay vào các khoản nhu yếu phẩm như: gạo, muối, thuốc, dầu lửa với giá cắt cổ, mà người nông dân phải mua trước của chúng để làm nghề....
Ở khu vực rừng đước Năm Căn, từ Thủ Tam Giang đến Rạch Tàu, chúng cho đào một hệ thống kinh “xắt bàn cờ” (gọi là kinh “cu lê”) trong rừng và cách 1 km/kinh, thì chúng chia khu vực thành 21 sơri (lô rừng), chúng cho dân vào khai thác, cũng gọi là mở cúp. Để bảo vệ triệt để tài nguyên rừng, chúng cho đóng các Đồn kiểm lâm tại Thủ Tam Giang, Năm Căn, Nhưng Miên.....mỗi sơri đều có cơ quan thủy lâm và cọp rằn (tuần khạo) trông coi; trước khi khác thác, bọn kiểm lâm vào rừng chọn những cây đước to để lại làm giống, khoảng 1.000 m2/cây, còn lại chúng cho đốn hết và đến mùa trái đước rụng xuống, tiếp tục tái sinh, chu kỳ 20 năm khai thác một lần.
Dân đốn đước, được gọi là dân đường củi hoặc thợ rìu, họ cất chòi ở trong rừng; công việc của dân đường củi vô cùng nặng nhọc, vất vã; mỗi khúc đước nặng 40 - 50 ký và đất rừng sình lầy, phải vác đến bến nước xa vài trăm mét, họ phải hạ cây bắc cầu và phải làm gậy chỏi tiếp mới đi nổi, ra tới bến nước chất thành đống, sau khi tuần khạo đến coi thì mới được chở đến lò than, tiền công mỗi site là 50 xu. Với tiền công rẻ mạt nên cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc.
Bọn kiểm lâm ở rừng đước tìm đủ mọi cách để vơ vét tiền của, công sức người nông dân; quá căm ghét, đồng bào ta gọi chúng là “rắn hổ mang”. Nhà báo Phan Ngọc Hiển, trong bài điều tra “Về vụ kiểm lâm Cà Mau” cho thấy bức tranh toàn cảnh người dân dưới chế độ nô lệ: “Ông Hương Hào Vòi ở ấp Nhưng Miên, đốn chỉ có 4 cây đước con làm cần câu, mà bị bắt giam tại Năm Căn một đêm và bị phạt năm đồng. Còn đồng bào ta đốn một quày dừa nước, chặt một cây nhỏ làm móc cua cũng bị phạt; đốn cây để chống mui ghe hoặc làm bàn vọng vái ngoài sân cũng bị phạt; ông Phó Dữ ở xóm mới, ba lần bị phạt mới cất được cái nhà. Cũng ở Nhưng Miên, đồng bào đã xin cây đóng ghe từ năm trước, đến năm sau mới đem ra làm củi cũng bị phạt; cây vẹt bỏ mục trong rừng, nhưng nếu đồng bào ta chở về làm cũng bị phạt; nơi đây là xứ rừng nhưng có người chỉ giấu được một khúc gỗ trong nhà cũng bị bắt và bị phạt.
Đồng bào ta muốn cất nhà phải làm đơn xin phép đốn lá, trong đơn phải kèm theo biên lai đã đóng thuế công sưu rừng; nhưng lá trong rừng chúng bán hết cho các chủ bao, chúng chỉ cho đến những nơi không có lá, vì vậy phải lén đốn lá ở rừng cấm. Trường hợp Văn Công Nghi, đã đóng tiền công sưu rừng nhưng đốn lá trong rừng cấm bị phạt 9,68 đồng (Năm 1932). Vì vậy, rất nhiều người không có nhà ở, phải che chòi, dột nát. Bọn kiểm lâm tây ở Nhưng Miên và Hàng Vịnh rất tàn ác, chúng muốn phóng ranh, đắp lộ ngay nhà dân, chúng bảo phải dỡ nhà; đồng bào ta nghèo, muốn cất được nhà mới không phải dễ; trễ hẹn, chúng sai người lại cưa cột nhà....”.
Đối với những người làm nghề hạ bạc: đáy, vó, lưới, câu, te, xiệp… càng nhiều khốn khổ. Đến mùa đóng đáy, đước đã đốn xong nhưng chúng không cho chở; các anh Lấm, Kiên, Phượng, Phố, Đính đều trong tình trạng chờ đợi hết con nước này đến con nước khác; đồng bào ta làm đơn thưa kiện nhưng chẳng có ai giải quyết…Đối với ngư dân cuộc sống càng khó khăn: chài, lưới, vó, xiệp, thời thực dân phải đươn lưới bằng gai hoặc bố, khi xuống nước trở nên nặng nề và phơi rất lâu khô.... Dân đẩy xiệp, kéo lưới phải trầm mình dưới biển, phải chịu biết bao nắng dãi, mưa dầu.
Thực dân Pháp chủ trương cho các chủ thầu, chủ bao đấu giá toàn bộ sông biển Cà Mau. Bọn chủ thầu, chủ bao cho bà con mướn lại với giá gấp đôi; sản phẩm làm ra chúng thu mua với giá rẻ mạt, đồng thời bán lại những thứ tối cần thiết với giá chênh lệch chưa từng thấy, chẳng hạn như: gạo 2,5 đồng/tạ, chúng tính cho bà con 4 đồng/tạ, gai 18 đồng, tính 36 đồng....Với cách làm ăn, buôn bán như vậy, không bao lâu, một số người nhanh chóng trở nên giàu có, trong khi đó đại đa số nông dân lâm vào cảnh khốn cùng.
Với nhận thức “Củi mục dễ un, dân khùng dễ trị”, thực dân Pháp cố tình kềm hãm dân ta trong vòng u tối. Chúng tổ chức cờ bạc, rượu chè, hốt me, đá gà, hút sách, trụy lạc để đầu độc, câu nhử, đẩy nông dân vào bước đường cùng. Chúng buộc người dân phải gọi nước Pháp là mẫu quốc (nước mẹ), các trường phổ thông từ lớp ba trở lên phải học tiếng Pháp. Ở tỉnh và quận, mỗi nơi chỉ có một trường tiểu học (hết cấp 1); ở mỗi làng chỉ có 1 trường tiểu học, mở tới lớp 3. Năm 1885, tỉnh Bạc Liêu chỉ có 5 trường học lợp lá với 236 học sinh (ghi tên), nhưng đa số đều vắng mặt lúc làm mùa hoặc đau ốm, hơn 95% dân ta mù chữ.
Cà Mau là xứ sở của vắt, đĩa, muỗi, mồng, nhưng hầu hết nông dân đều trong cảnh quần bô, áo bố “Chồng đi, vợ phải ở nhà” là câu thơ miêu tả cảnh hai vợ chồng chỉ có 1 cái quần. Trẻ em ngủ trong mùng may bằng bao bố tời nóng bức và hôi hám; nhiều người phải chằm lá làm mùng, có người phải quấn con cuối hoặc dùng củi mục un khói thay mùng. Trước năm 1945, nhiều người mặc áo dệt bằng chỉ khóm, chỉ chuối hoặc mặc bao cà ròn dệt bằng cọng bàng, cọng lục bình…Thơ ca không diễn tả hết nỗi thống khổ đọa đày của người nông dân thời nô lệ. Kiếp cùng đinh cơ hàn, dốt nát đã nhấn chìm họ đến đáy vực thẳm vì “Nước mất nhà tan”.
V. ĐẤU TRANH CHỐNG ÁP BỨC TRƯỚC KHI CÓ ĐẢNG RA ĐỜI
Tức nước vỡ bờ! càng bị bóc lột, người dân vùng dậy phản kháng; nổi dậy đương đầu với cường quyền, bạo lực. Dân Cà Mau nổi tiếng là “Bất hợp tác với Phú Lang sa”; ủng hộ tham gia các cuộc khởi nghĩa do các sĩ phu yêu nước lãnh đạo như: Trương Công Định, Thủ Khoa Huân, Nguyễn Trung Trực.
Năm 1866, trước khi khởi binh đánh đồn Kiên Giang, Nguyễn Trung Trực tìm cách đưa thân tộc đến Đầm Dơi ẩn náu, đề phòng bất trắc; đoàn đi gồm “Bảy ghe - Sáu gánh”, liên hệ được gia tộc họ Lê ở dọc sông Cái Tàu để mua gạo, thuốc, quần áo, tôm cá, trứng chim… Khi được tin quân Pháp đến Cà Mau, đoàn người tiếp tục di chuyển xuống vùng Đầm Chim Đầm Dơi mở đất lập căn cứ, người dân địa phương sẵn sàng ủng hộ, giúp đỡ để nghĩa quân đến nơi an toàn. Năm 1868, khi Nguyễn Trung Trực chuẩn bị tiến công đồn Kiên Giang, nhiều nông dân Cà Mau tham gia nghĩa quân chiến đấu chống địch.
Năm 1872, anh em Đỗ Thừa Luông, Đỗ Thừa Tự, huy động hơn 600 nghĩa quân, lập căn cứ tại Cái Tàu - U Minh, khởi nghĩa chống thực dân Pháp (cuộc khởi nghĩa kéo dài hơn 3 năm(3)), được bà con nông dân trong vùng hưởng ứng nồng nhiệt. Hai ông cướp được nhiều vũ khí của địch; bà con nông dân ủng hộ rất nhiều lương thực, thực phẩm; các chị phụ nữ thức suốt đêm xay lúa, giã gạo tiếp tế cho nghĩa quân.....Rạch hàn lớn, Rạch hàn nhỏ là hai cản có qui mô lớn, anh em họ Đỗ huy động nông dân hàn sông ngăn tàu giặc nên bà con ta quen gọi “Rạch hàn”(2). Nghĩa quân họ Đỗ giết chết tên Osamyé, người Pháp và tên tri huyện Phan Tử Long (đây là những tên cướp và bán nước đầu tiên bị lực lượng yêu nước tiêu diệt trên đất Cà Mau). Khi quân Pháp tiến công vào căn cứ, nghĩa quân bị đánh tan, hai anh em họ Đỗ bị giặc bắt; dù bị tra tấn dã man, dù bị mua chuộc, dụ dỗ, Đỗ Thừa Luông, Đỗ Thừa Tự quyết không khuất phục; hai ông thét vào mặt quân thù “Thà chết vinh hơn sống nhục, chúng tao quyết không cúi đầu làm nô lệ cho quân cướp nước!”. Thực dân Pháp xử tử hình hai ông tại thị trấn Cà Mau.
Trong những năm 1880 - 1900, Thiên Địa Hội xuất hiện với khẩu hiệu “Phản Pháp phục Nam”; người nông dân lầm than, cơ cực dưới chế độ thực dân đã tìm đến Thiên Địa Hội; thực dân Pháp phải thành lập 29 đội cảnh sát lưu động đi lùng sục, bắt bớ hội viên Thiên Địa Hội ở các tỉnh Nam kỳ.
Năm 1901, hàng nghìn nông dân Cà Mau - Bạc Liêu biểu tình chống bọn thực dân càn quét bắt người dân đi làm xâu đắp lộ Cà Mau - Bạc Liêu (theo quy định mỗi người chỉ làm 20 ngày/năm, nhưng bọn tay sai thực dân Pháp bắt dân làm xâu đến 2 tháng mà không trả thêm tiền). Đang lúc mùa màng thất bát, việc cưỡng bức làm xâu như thế đã vượt quá khả năng chịu đựng; nông dân đấu tranh đòi giảm ngày công, cấp thuốc trị bệnh, cấp đủ nước uống… Cuộc đấu tranh thắng lợi, buộc địch phải chấp nhận yêu sách. Đầu năm 1925, bà con nông dân xã Tân Thành đấu tranh chống bọn tề xã cướp đất lá trên đất Công điền; bọn địch khủng bố tìm bắt những người chúng tình nghi cầm đầu.(1)
Nhiều hình thức đấu tranh tự phát giúp cho dân nghèo được hình thành: ở xã Tân Hưng có “Hội kiện làng”, “Hội đánh làng”; mục đích của Hội là tìm cách hạ uy thế bọn quan làng hóng hách, hiếp đáp nhân dân. Hội này do ông Lâm Văn Hiệp (Hiệp Rừng) ấp Cái Bát phụ trách, cùng với bà Hai Nhen (Lung Tàng) và bà Hai Tý (Cái Đôi Vàm). Tại xã Quách Văn Phẩm, do quá căm phẫm tên tay sai của Tây Công ty, ông Nguyễn Văn Ngưu chờ lúc hắn đi tuần, đè hắn và dùng lưỡi hái cắt cổ, hắn kêu la cầu cứu, nhờ đồng bọn đến giúp mới thoát chết. Phản đối việc Tây Công ty ra lệnh đánh chị The khi chị đang mang thai, bà con nông dân kéo đến mấy trăm người, vừa phản đối, vừa đòi bồi thường, vừa buộc Tây công ty phải hoãn nợ vay và phải cho tự do câu cá trong điền; năm 1930, khi Tây công ty định lấy đất ông Nguyễn Cao Minh làm đập và cống xổ nước giữa kinh điền quốc gia và bà Hính, bị bà Nguyễn Thị Thể (vợ ông Minh) cùng thân tộc dùng dao xắc chuối chống cự, cuối cùng hắn phải dời cống ra Lung Vinh, cách xa hơn 500 m. Năm 1925, đồng bào ấp Rạch Gốc, xã Tân Ân biểu tình đòi bọn Tây ở Hòn Khoai phải cho bà con được tự do chở nước ngọt và đòi bọn chủ bao khi mua tôm, cá và các thứ hàng hóa khác phải tính tiền và giá cả sòng phẳng, không được bóc lột, ép giá hoặc tăng giá quá đáng.
Cuối năm 1925, hơn 500 nông dân ấp Rạch Mũi, Tân Hưng đấu tranh chống tên điền chủ thực dân Patisti (Patisti chiếm đất nông dân từ Cái Rắn đến Rạch Muỗi, gọi là điền Quốc gia), hắn xây dựng nhiều nhà lầu và đào nhiều con kinh từ Rạch Muỗi, Cái Bát, Đường Cuốc ra sông Ông Đốc… Bà con được tin hắn cho tá điền đến bắt ông Suốt trói lại và tát đìa của ông để bắt cá, lập tức bà con mang cây, roi, dao, mác, kéo đến, bọn chúng hoảng sợ bỏ chạy. Để trả thù, chúng huy động thầy nghề võ, lính mã tà, cảnh sát kéo qua Rạch Mũi; dân Rạch Mũi gióng trống lập binh, tập hợp lực lượng với đầy đủ cây roi dao mác trong tay, dàn thành hàng, dọc theo bờ kinh Sư Siêu, rồi dùng miểng thạp, miểng lu, cây cối tấn công bọn chúng; không đương cự nổi, bọn chúng bỏ chạy. anh Năm Nghĩa (tức Trần Văn Nghĩa – Gia Long) phóng theo một cây tầm vong làm Patisti bị thương. Thắng lợi này gây phấn chấn khắp vùng.
Mấy tháng sau, Patisti lại chủ trương phá đập Bà Tường để cho canô chạy, có cả bọn cò, cai, quản, làng chứng kiến; nước mặn tràn lên làm hư lúa của nông dân. Sau đó chúng lại vào phá đập Rạch Muỗi, chúng cho Cai Tổng Di vào điều tra để tìm cách phá đập, rước tên quận trưởng Cà Mau vào chứng kiến, hương quản Túc trực tiếp chỉ huy phá đập. Ở trong đập Rạch Mũi có ao nước ngọt rất lớn, hàng năm bà con nông dân phải vào chở nước ngọt về xài; được tin chúng đến, bà con huy động cả trăm ghe xuồng (chở khạp, lu, mái) đậu dày đặc một khúc sông; nhiều chị phụ nữ nằm dài trên mặt đập cương quyết không cho chúng phá đập; lý lẽ của bà con là nếu phá đập, nước mặn tràn vào làm sao còn nước ngọt để nấu ăn, nấu uống?. Tên quận trưởng thấy tình thế rắc rối, tìm cách tháo lui; tên hương Quản Túc ra lệnh đàn áp, bị chị Lụa (do chuẩn bị trước) lột quần ngoài quất lên đầu hương Quản Túc, làm hắn bỏ chạy.
Ngoài các cuộc đấu tranh nêu trên còn có các cuộc đấu tranh bằng đơn từ kiện tụng như: Hai mươi hộ nông dân lô 23A (Đầm Dơi) đấu tranh giành thắng lợi, buộc thống đốc Nam kỳ phải nhận đơn và phú về cho quận trưởng Cà Mau giải quyết trả đất lại cho bà con. Vụ đấu tranh thành công của ông Lê Văn Cận và Nguyễn Hoá Long cùng 40 hộ dân Tân Đức (Đầm Dơi), 300 mẫu đất được trả lại cho những người khai khẩn… là những dấu ấn mạnh mẽ.
Ở thời kỳ này còn người dân thể hiện những cách thức phản kháng riêng biệt như: Ông Lý Văn Trợn, xã Viên An do quá căm ghét bọn tham quan ô lại, đã đặt tên cho con mình là Lý Văn Phách và Lý Xốc Xấc; cứ mỗi lần thấy mặt bọn chúng, là ông kêu tên con ra mà chưởi (khi cách mạng bùng lên, ông cho con tham gia công tác, các con ông đều đã trưởng thành). Ông Trần Văn Giỏi (1) xã Tân Hưng Tây là người luôn luôn phẩn nộ bọn địa chủ, quan làng húng hiếp dân, vì bọn chúng tìm mọi cách để ăn hối lộ kể cả trường hợp khai sinh và khai tử.
Cuối năm 1925 và đầu năm 1926, xảy ra hai sự kiện lớn của đất nước là cuộc biểu tình đòi thả nhà yêu nước Phan Bội Châu và tham gia lễ tang và lễ truy điệu nhà cách mạng Phạn Chu Trinh, càng nung nấu ý chí đấu tranh bất khuất của các tầng lớp nhân dân ta.
Năm 1927 và 1928, sự kiện nông dân ở Ninh Thạnh Lợi và Đồng Nọc Nạng chiến đấu đẩm máu với bọn điền chủ và thực dân càng làm bùng cháy ngọn lửa đấu tranh đã âm ỉ của nông dân. Năm 1929, tại xã Tân Hưng Tây (Cái Nước) xảy ra cuộc đấu tranh của bà con nông dân với bọn địa chủ Trần Trinh Trạch và tuần khạo Trạch Nhung (thầy ba nhung).....Trần Trinh Trạch là tên địa chủ khét tiếng giàu có ở Bạc Liêu, cấu kết với tên Chủ tỉnh Bạc Liêu, đút lót cho bọn khám đạt, đứng tên trưng khẩn 400 ha đất giáp ranh với điền Tạ Trung Nghĩa chạy dài đến kinh Bà Hô (vàm Xáng thợ Mai); nơi đây là vùng đất được bà con ở Cần Thơ khai phá lập nghiệp và đã hình thành làng xóm (gọi là xóm Cần Thơ); Chánh tham biện Pháp đã cấp bằng khoán vĩnh viễn 400 ha đất này cho Trần Trinh Trạch; tên Ba Nhung, tuần khạo của Trần Trinh Trạch đến cất lẫm lúa tại xóm Ba Tiệm và buộc nông dân phải làm tờ tá (tá canh) thừa nhận làm tá điền cho chúng, ai không chịu phải dỡ nhà đi nơi khác. Bà con nông dân xóm Cần Thơ và Ba Tiệm đấu tranh quyết liệt, không thi hành lệnh của chúng. Dựa vào thế lực thực dân, bọn chúng bắt dân các ấp lân cận đến dỡ nhà, đuổi bà con đi nơi khác; bà con đồng hè vác dao, phãng, chĩa… xông vào chống lại, bọn dỡ nhà và bọn tề làng hoảng hốt tháo chạy.....Chẳng bao lâu sau, bọn tề làng được lệnh quan trên tiếp tục đuổi dân đi để cướp đất cho Trần Trinh Trạch. Bà con nông dân được tin liền bố trí cho lực lượng phụ nữ trực tiếp nghinh chiến với chúng; khi xuồng tên hương quản vào đến bến, chị em đồng loạt ào xuống, kéo xuồng hắn lên bờ, dùng “Đồ dơ” đập lên đầu hắn, rồi hốt sình bùn đập nhầu lên người hắn; sau khi hạ nhục, chị em đẩy xuồng hắn ra giữa sông, hò hét đuổi hắn đi. Kể từ đó bà con nông dân tiếp tục giữ đất cày cấy, không còn bị bọn quan làng xua đuổi nữa…Mâu thuẫn giữa nông dân và bọn địa chủ, quan làng ngày càng gay gắt, nhiều cuộc đấu tranh ngày càng bùng phát mạnh mẽ và lan rộng. Tuy nhiên, do chưa có sự lãnh đạo của Đảng Công sản Việt Nam phong trào đấu tranh của nông dân diễn ra rời rạc, bị thực dân, phong kiến đàn áp thẳng tay.
CHƯƠNG II
PHONG TRÀO NÔNG DÂN CÀ MAU
THỜI KỲ KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP (1930 – 1945)
I. CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN LAN RỘNG ĐẾN CÀ MAU
Vào những thập niên đầu thế kỷ 20, chủ nghĩa Mác-Lênin được truyền bá vào Việt Nam. Trong quá trình tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã hiểu thêm về người nông dân các nước thuộc địa. Người đã lấy thân phận nô lệ của người nông dân làm hiện thực tố cáo bản chất tàn bạo của chủ nghĩa thực dân, vạch trần bộ mặt của cái gọi là “khai hoá văn minh” của bọn thực dân Pháp ở Việt Nam.
Ngày 10 tháng 10 năm 1923, Nguyễn Ái Quốc tham dự Hội nghị lần thứ nhất Quốc tế Nông dân. Người đã tố cáo sự bóc lột đàn áp của bọn thực dân, địa chủ đối với giai cấp nông dân và kiến nghị với Quốc tế Cộng sản cần quan tâm chỉ đạo nông dân thuộc địa đấu tranh bảo vệ quyền lợi chân chính của mình.
Năm 1927, Nguyễn Ái Quốc xuất bản cuốn “Đường cách mệnh”. Người xác định rõ sự nghiệp giải phóng giai cấp nông dân gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng loài người. Người chỉ rõ: “Nền tảng của vấn đề dân tộc là vấn đề nông dân, nền tảng của cách mạng dân chủ cũng là vấn đề nông dân”. Người khẳng định: “Cuộc cách mạng vô sản không thể thắng lợi ở các nước nông nghiệp và nửa nông nghiệp nếu như giai cấp vô sản cách mạng không được quần chúng nông dân ủng hộ tích cực”. Người xác định vai trò, vị trí nông dân là “Đồng minh tự nhiên” của giai cấp công nhân. Nông dân Việt Nam “Phải tổ chức nhau để kiếm đường giải phóng”, “Hội Nông dân là một cái nền cách mệnh của dân ta”.
Trong chính cương và sách lược vắn tắt của Đảng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo nêu rõ: “Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. “Thu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm của công, chia cho dân cày nghèo”. Một trong những khẩu hiệu trong tuyên ngôn của tổ chức Việt Nam thanh niên cách mạng là “Ruộng đất về tay dân cày”.
Năm 1925, cùng với việc sáng lập Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội tại Quảng Châu - Trung Quốc (Tiền thân Đảng Cộng sản Việt Nam), đồng chí Nguyễn Ái Quốc tổ chức tuyển chọn những thanh niên tiến bộ từ trong nước, sang Trung Quốc học tập đưa về vận động cách mạng ở nước ta; đồng thời đưa sách vở, báo chí về truyền bá tư tưởng Mác-Lênin trong các tầng lớp nhân dân, nhất là đối với nông dân và thanh niên.
Trong số những thanh niên ưu tú được đồng chí Nguyễn Ái Quốc tuyển chọn và huấn luyện có đồng chí Huỳnh Quảng (tức Hoàng Tuyền, bí danh Trần Não) con một Nông dân ở Rạch Giồng Ông, Cái Tàu, xã Khánh An (Nay là xã Nguyễn Phích, huyện U Minh). Năm 1926, đồng chí là học sinh trường Collège Dle Cần Thơ cùng các sinh viên: Nguyễn Thanh Sơn, Nguyễn Văn Phát, Trần Văn Thạnh, Nguyễn Văn Cưng, Trần Ngọc Diệp tìm đường trốn sang Quảng Châu. Đồng chí Huỳnh Quảng được dự lớp huấn luyện đầu tiên và được cử học trường quân chính Hoàng Phố(1). Sau 3 tháng học tập, đồng chí và 8 người cùng đi, được đồng chí Hồ Tùng Mậu thay mặt Tổng bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội kết nạp vào tổ chức cách mạng tại Hoàng Hoa Cương (Trước mộ liệt sĩ Phạm Hồng Thái và 72 liệt sĩ của các nước với cách mạng Trung Quốc). Cuối năm 1927, đồng chí trở về Sài Gòn hoạt động. Đồng chí Huỳnh Quảng là một trong những người sáng lập An Nam Cộng sản Đảng. Năm 1929, đồng chí được bầu làm ủy viên Ban Chấp hành An Nam Cộng sản Đảng và Bí thư Thành ủy thành phố Sài Gòn-Chợ Lớn(2)
Khi tổ chức Thanh niên Đồng chí Hội của tỉnh ra đời, đã tổ chức nơi bán sách, báo tiến bộ để cho những người có tư tưởng yêu nước đến tìm hiểu, nhiều thanh niên, nông dân có tinh thần yêu nước cũng đến nơi bán sách, báo để đọc. Báo chí Sài Gòn lúc này cũng được phát hành đến nhiều nơi ở nông thôn như: Trung Lập, có một số ký giả phản ánh đời sống của nông dân ở nông thôn, kêu gọi Nhà nước Pháp phải có trách nhiệm với nông dân trong tình hình kinh tế khủng hoảng.
Vừa tuyên truyền vận động cách mạng, vừa lãnh đạo bà con đấu tranh đòi miễn, giảm thuế, chống cướp đất, tăng địa tô, đòi tự do vào rừng đốn củi. Sự kiện nổi bật ở thời điểm này là cuộc đấu tranh chống thuế thân của hàng trăm nông dân xã Tân Thành. Ngày 20 tháng 4 năm 1929, tên Cò Tây dùng canô chạy vào xã định bắt số người cầm đầu nhưng hàng chục nông dân đã tràn xuống canô, sẵn sàng ra quận chứ không đóng thuế; trước áp lực của bà con, bọn chúng phải tạm hoãn lại để bà con tiếp tục làm mùa.
Một số cán bộ, chiến sĩ các vùng khác bị thực dân Pháp truy lùng đã chuyển về địa bàn Cà Mau lập ra hiệu thuốc Đông y, đặt tại nhà ông Lâm Mẫn Huệ, thân sinh đồng chí Lâm Thành Mậu, vừa xem mạch hốt thuốc, vừa vận động cách mạng, đã xây dựng cơ sở chính trị rất tốt. Thực dân Pháp đánh hơi, cho bọn mật thám theo dõi, chúng chú ý tiệm sách, quán cơm và hiệu thuốc Đông y và buộc 3 nơi này phải đóng cửa; đồng bào ta dùng lý lẽ đấu tranh để các nơi này tiếp tục hoạt động bình thường.
Hoạt động của tổ chức Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội đã gây ấn tượng mạnh mẽ trong nhân dân lao động, đặc biệt là đối với nông dân. Sau sự kiện ở Ninh Thạnh Lợi, Đồng Nọc Nạng, Rạch Mũi, Bà Tường làm cho bà con nông dân càng ý thức sâu sắc hơn nữa những cuộc đấu tranh với bọn thực dân, địa chủ để giành lấy cuộc sống của mình.
II. CHI BỘ ĐẢNG RA ĐỜI, LÃNH ĐẠO NÔNG DÂN ĐOÀN KẾT ĐẤU TRANH CHỐNG ĐỊCH
Năm 1929, đồng chí Ung Văn Khiêm, Bí thư Đặc ủy Hậu Giang về xây dựng cơ sở ở Cà Mau. Ngày 01 tháng 01 năm 1930, Chi bộ An Nam Cộng sản Đảng, Thị trấn Cà Mau được thành lập do đồng chí Lâm Thạnh Mậu làm Bí thư. Chi bộ phân công đồng chí Nguyễn Văn Uông, Châu Văn Lực, Trần Văn Tiễn trực tiếp tổ chức Hội Tương tế ái hữu nhằm tập hợp nông dân, đoàn kết đấu tranh chống bọn tề, địa chủ, giúp nhau sản xuất, bài trừ cờ bạc, dị đoan, mê tín, trộm cướp. Chi bộ phát triển đến đâu Hội được tổ chức đến đó. Hội Tương tế ái hữu ấp Rạch Rắn do Nguyễn Văn Uông phụ trách gây được ảnh hưởng tốt đến các ấp kế cận, từ đó phát triển thêm nhiều Hội khác. Hầu hết hội viên của Hội là bần, cố nông, rất nhiệt tình và hăng hái tham gia các hoạt động xã hội. Thời gian đầu Hội tổ chức được 30 người, Ban Trị sự 05 người. Hội có chương trình, đóng nguyệt phí, tổ chức và hoạt động có qui củ, nề nếp.
Năm 1928 - 1930, tình hình kinh tế trong nước khủng hoảng, bà con nông dân không có tiền nộp thuế thân bị bọn quan làng bắt bớ hành hạ. Đồng chí Nguyễn Văn Uông bị bắt và bị giam cầm buộc phải chạy tiền đóng thuế thân chúng mới thả.
Sau ngày 03 tháng 02 năm 1930, các Chi bộ An Nam Cộng sản Đảng được đổi tên là Chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội Tương tế ái hữu được chuyển lại thành Nông Hội đỏ. Sự kiện treo cờ Đảng ở thị trấn Cà Mau trùng hợp ngày thành lập Đảng (Ngày 03 tháng 02 năm 1930), trong đêm các đảng viên treo khẩu hiệu, truyền đơn ở những nơi công cộng. Lá cờ đỏ búa liềm đầu tiên được xuất hiện ở vùng đất cuối cùng của Tổ quốc.
Thời điểm này, phong trào nông dân nhiều nơi phát triển. Nông dân xã Tân Phú, chống bọn họa đồ ngang nhiên đến đo đạc cắm trụ đá theo lệnh của bọn địa chủ để cướp đất nông dân; bà con làm lò than ở Năm Căn đòi chủ lò tăng lương, giảm giờ làm; ngư dân Rạch Gốc chống tăng thuế nò, thuế đáy.
Nhân ngày Quốc tế Lao động (ngày 01 năm 5 năm 1930), Đặc ủy Hậu Giang chủ trương treo cờ Đảng, rải truyền đơn để cổ vũ phong trào. Xã Tân Hưng tuy chưa có tổ chức Đảng nhưng các anh: Lương Thế Trân, Nguyễn Đức Cao, Nguyễn Ngọc Hương, Nguyễn Văn Khá tự động may cờ đỏ búa liềm và viết khẩu hiệu “Diệt trừ Pháp tặc” treo tại khu vực đình Tân Hưng; sự kiện này tạo nên dự luận mạnh mẽ; Nông dân, Thanh niên, Phụ nữ các xã Phong Lạc, Khánh Bình, Khánh Lâm, Tân Hưng, Năm Căn hăng hái tham gia vào các tổ chức quần chúng như: Nông Hội đỏ, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ; tâm tư, tình cảm của nông dân đều hướng theo con đường cách mạng của Đảng.
Tháng 6 năm 1930, đồng chí Quảng Trọng Hoàng tổ chức hội nghị Chi bộ tại nhà đồng chí Châu Văn Phát ở ngã tư Khana Rộn thuộc xã Mỹ Quới, gồm: đồng chí Trần Văn Bảy, Trương Quí Thể, Lê Giáo Huấn, Trần Văn Tám, Nguyễn Văn Hiến, Nguyễn Thị Ngoạt, Trương Thị Kiều. Hội nghị đọc điều lệ Đảng Cộng sản và đồng chí Mười Huấn được bầu làm Bí thư Chi bộ. Bà con nông dân nơi đây đã trực tiếp canh gác, làm giao thông liên lạc cho Chi bộ. Các đồng chí dựa vào những nông dân chí cốt xây dựng thêm căn cứ Điền Bà Chiêm, xã Tân Phú (Kinh Năm Chợ Hội – Thới Bình). Đến năm 1932, xây dựng thêm một căn cứ ở Kinh Hai thuộc xã Vĩnh Phong trong một ngôi nhà được ngụy trang “Tiệm thợ bạc”. Từ căn cứ này có thể liên lạc trực tiếp đến Cà Mau, Vĩnh Phú, Phước Long, Xã Thoàn, Ngã Tư Phó Sinh. Hầu hết những nông dân, con em của họ tham gia công tác và làm giao liên, bảo vệ căn cứ, sau này đều trở thành cán bộ cách mạng.
Tháng 10 năm 1930, Chi bộ xã Tân Thành có đồng chí Hồng Liên xây dựng và thành lập, đồng chí Tăng Hồng Phúc làm Bí thư Chi bộ. Lần đầu tiên bà con nơi đây được xem điều lệ Nông Hội đỏ và Báo Búa liềm in bằng xu xoa do đồng chí Hồng Liên trực tiếp mang đến. Các đoàn thể cách mạng đã kết nạp hàng trăm hội viên, hoạt động vô cùng sôi nổi.
Sau khi các Chi bộ trong tỉnh được thành lập, các tổ chức quần chúng, đặc biệt là Nông Hội đỏ được phát triển. Hội từng bước đáp ứng nguyện vọng của nông dân trong tỉnh, Tổ chức Nông Hội đỏ ở một số nơi có từ 3 đến 5 người, do Chi bộ trực tiếp lãnh đạo (chưa có hệ thống từ trên xuống). Những nơi chưa có Chi bộ mà có tổ chức Nông Hội đỏ thì Hội được giao nhiệm vụ lãnh đạo quần chúng thực hiện những nhiệm vụ của Đảng.
Rất nhiều gia đình nông dân từ thiếu nhi đến bô lão sẵn sàng tham gia công tác với tinh thần tận tụy. Bà Nguyễn Thị Được, nguyên Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (quê Cà Mau – Bạc Liêu), lúc 11 tuổi đã biết làm giao liên mang thư đi liên tục từ Giá Rai, Phước Long đến Cà Mau, 13 tuổi đã phải bỏ học để bảo vệ căn cứ của Chi bộ xã Phong Thạnh Tây và được phân công viết bản cảo để in Tuyên ngôn Đảng Cộng sản. Bà Trần Thị Kiều vừa làm liên lạc, vừa nuôi chứa rất nhiều cán bộ trong nhà. Bà Lê thị Chơi ở Cái Bát hàng năm làm cả trăm giạ lúa để giành nuôi cán bộ. Ông Nguyễn Phát Ngọc gia đình nghèo, cấy hái xong là hết gạo ăn, dù vậy trong nhà ông thường xuyên phải che giấu hàng chục cán bộ; ông Ngọc phải thức đêm giăng câu để bán cá mua gạo nuôi cán bộ suốt thời gian dài.
Lực lượng nông dân dưới sự lãnh đạo của Chi bộ xã Tân Thành đã treo cờ Đảng và rãi truyền đơn nơi trung tâm xã; bọn mật vụ, cảnh sát rất cay cú, chúng bao ráp đêm ngày, tra xét giấy tờ, kiểm tra hộ khẩu để tìm bắt cán bộ. Quận trưởng Cà Mau đưa vào Tân Thành một Đại Đội cảnh sát do tên Trần Văn Chuối (Cai Chuối) chỉ huy; bọn chúng rất hung hăng, lùng sục ráo riết. Đồng chí Tô Phương Hà và 2 thanh niên cùng với lực lượng phụ nữ và cốt cán của ta tổ chức chống lại chúng. Địch đã bắt và đày đi Bà Rá 5 đảng viên và hàng chục cán bộ nòng cốt... Chúng tiếp tục khủng bố lùng sục khắp nơi, nhiều cán bộ của ta phải lánh sang nơi khác, phong trào tạm thời lắng xuống.
Tháng 10 năm 1930, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị thông qua Luận cương chính trị, Luận cương nêu rõ: “Dân cày là hạng người chiếm đại đa số ở Đông Dương, họ là một động lực mạnh cho cách mạng tư sản dân quyền”. Một trong các quyết định của Hội nghị lần này là “Phải chỉnh đốn Nông Hội lại cho có hệ thống theo điều lệ mới và dự bị việc tổ chức Đông Dương Tổng Nông hội, phải tổ chức Đội Tự vệ của nông dân”. Hội nghị thông qua điều lệ Tổng Nông hội Đông Dương. (Tổng Nông hội là tên gọi đầu tiên của Hội Nông dân).Các nghị quyết của Hội nghị tháng 10 năm 1930 được phổ biến sâu rộng.
Ngày 20 tháng 3 năm 1931, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị về vấn đề chỉnh đốn Nông Hội đỏ, khẳng định vai trò nông dân là “Lực lượng chính của cách mạng” nòng cốt là cố, bần nông.
Cuối tháng 3 năm 1931, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ hai nêu rõ “Cần phải đẩy mạnh việc tổ chức Nông hội làng, tuyên truyền sâu rộng chủ trương của Đảng”, hội nghị nhấn mạnh “Trong điều kiện địch khủng bố trắng, nông dân cùng các tầng lớp nhân dân đoàn kết đấu tranh chống sưu thuế, địa tô, chống thất nghiệp, chống khủng bố trắng…”.
Do địch tăng cường khủng bố khắp nơi, nhiều cán bộ của ta bị bắt, bị tù một số phải tạm lánh qua rừng U Minh hoặc về rừng đước để tiếp tục xây dựng phong trào. Đồng chí Phan Thái Hòa từ Cao Lãnh về Năm Căn đã giác ngộ nhiều anh em làm lò than cho Pháp. Các anh lãnh đạo bà con đốn cây đốt than đấu tranh với bọn địa chủ lò than và hạt kiểm lâm phải tăng tiền công, tăng giá củi, chống ăn hối lộ và phạt vạ vô cớ. Do đấu tranh có lý, có tình, bọn chúng phải nhượng bộ, bà con rất tin tưởng vào tổ chức, do đó các tổ chức tiếp tục phát triển ngày càng đông đảo đến các xã Tân Ân, Viên An.
Tháng 6 năm 1932 Trung ương Đảng khởi thảo chương trình “Chuẩn bị lực lượng cho cao trào cách mạng mới”. Trên cơ sở đó, chương trình hành động của Nông Hội ra đời gồm 10 điểm: “Chống các thứ xâu thuế; chống cướp ruộng; phản đối cho vay nặng lãi; chia thóc cho dân cày nghèo; cho nông dân vay vốn để cày cấy; đòi tự do hội họp; tự do ngôn luận; tự do bãi công, bãi thị; phản đối bắt bớ giam cầm; đòi thả tù chính trị; đòi bỏ độc quyền rượu, muối”…Chương trình hành động của nông hội còn nhấn mạnh: Nông hội khắp nơi trong cả nước phải đoàn kết đấu tranh để bênh vực quyền lợi của nông dân lao động. Dưới sự lãnh đạo của Nông hội đỏ, phong trào nông dân lại liên tục diễn ra. Năm 1933 các xã chung quanh thị trấn Cà Mau và nhiều nơi trong tỉnh có phong trào chống bọn tề làng hóng hách. Bà con nông dân tổ chức đánh tên Hương quản tại Tân Hưng; lấy cớ hắn đã bắn một con khoang cổ tại đình làng Tân Hưng, làm náo động nơi thờ cúng tôn nghiêm. Phong trào nông dân chống thuế, chống xâu, chống địa chủ cướp đất, vơ vét, bóc lột diễn ra liên tiếp trong tỉnh như: xã Tân Hưng Tây chống Cả Khuê, Xã Đậu, điền chủ Pobikel, Chevetchi… Bà con nông dân tổ chức đánh tên cặp rằn của Cả Khuê.
Ngày 26 tháng 5 năm 1934, sau khi mãn hạn tù đồng chí Nguyễn Văn Uông trở lại quê hương tiếp tục hoạt động cách mạng, tập trung đi sâu củng cố lại Hội Tương tế ái hữu (tức Nông Hội đỏ), tổ chức kết nạp hội viên, lấy Hội làm nơi tập hợp quần chúng để tuyên truyền, giác ngộ bà con nông dân về quyền lợi đấu tranh giai cấp, ý thức đoàn kết, tương trợ lẫn nhau.
Cuối năm 1934, phong trào đấu tranh của nông dân càng sôi sục, 27 hộ nông dân kinh Công Nghiệp được sự lãnh đạo của các đồng chí Bùi Quang Thân, Nguyễn Công Trung, Phan Ngọc Hiển đấu tranh trực tiếp với điền chủ Ba Chiêm khi Ba Chiêm mướn cò Tây, lính mã tà đến đốt nhà của bà con, lấy đất cho người khác mướn. Được bà con nông dân đồng tình ủng hộ, không ai vào mướn đất, cuối cùng Ba Chiêm phải để nguyên canh cho bà con.
Tại Rạch Miễu (Thới Bình) có ông Trương Văn Minh và bà Nguyễn Thị Trường cùng 24 hộ dân đấu tranh chống địa chủ Nguyễn Thị Huệ cướp đất, giành thắng lợi… Bọn địa chủ đem trâu vào cày đất, bà Trường cản đầu trâu, chặt dây ách thả trâu, bọn làng lập “Vi bằng” định bắt bà nhưng bà con nông dân đấu tranh mạnh mẽ, nên bọn chúng không bắt bà được. Ngoài ra, còn nhóm 30 hộ dân kinh Kiểm Lâm (đến ngang kinh Hai Ngó) do Trần Hiển Vinh đứng đầu, đấu tranh chống địa chủ Trần Trinh Trạch cướp đất, cuộc đấu tranh kéo dài trong nhiều năm, bà con mới giữ được đất để canh tác.
Từ ngày 27 đến ngày 31 tháng 3 năm 1935, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Đảng họp, đã thông qua Nghị quyết về vận động nhân dân đã nêu nhiệm vụ vận động nông dân, chú trọng phát triển các tổ chức Nông hội, đề ra mục tiêu đấu tranh của giai cấp nông dân. Thực hiện Nghị quyết của Đại hội, các tổ chức Nông hội các tỉnh từng bước phát triển, tập hợp đông đảo lực lượng nông dân tham gia.
Tháng 5 năm 1935, đồng chí Phạm Hồng Thám (Bí danh Hai Phước) cùng các đồng chí: Tạ Uyên, Tống Văn Trân, tất cả 9 người từ Côn Đảo vượt biển trở về đất liền. Đồng chí Phạm Hồng Thám và Cộng Xuôi về vùng Năm Căn, cùng các anh Nguyễn Văn Hoàng, Nguyễn Thông đến Rạch Gốc cùng với Phan Ngọc Hiển xây dựng lại cơ sở cách mạng, bố trí ngư dân trong các làng cá, chuẩn bị ghe thuyền ra khơi và ở các cửa sông rạch để đón cán bộ từ Côn Đảo vượt ngục bằng bè thả trôi về đất liền. Sau khi rời Tân Ân đồng chí Thám chuyển sang Tân Hưng Tây, Thới Bình, Chợ Hội để xây dựng cơ sở, tổ chức nhân dân đấu tranh chống áp bức bóc lột. Năm 1935, Chi bộ xã Tân Hưng Tây được thành lập do đồng chí Nguyễn Văn Lợi làm Bí thư. Chi bộ lãnh đạo nông dân chống tên Xã Trọng, địa chủ ấp Cái Bát hà hiếp, áp bức nông dân.
Lúc bấy giờ tại Tân Ân có nhiều phong trào phát triển sôi nổi như: Học văn hoá, sinh hoạt văn nghệ, thể thao, Phan Ngọc Hiển cùng cán bộ cơ sở địa phương tổ chức một “Tiệm sách dân lập” tại nhà chị Nguyễn Thị Quýt để bán sách và dụng cụ học sinh, đây cũng là điểm liên hệ của ta tại vùng này. Ngoài ra, còn có tổ chức Hội banh, Đội văn nghệ. Phong trào đấu tranh của nhân dân Tân Ân lên mạnh, đó là việc chống thuế thân, chống bọn cặp rằn hà hiếp nhân dân lao động vào rừng đốn củi bị chúng bắt bớ, tịch thu xuồng ghe, gây biết bao cảnh lầm than vất vả. Cuộc đấu tranh có lý, có tình đã được những Hương chức Hội tề ủng hộ như: Cả Trích ủng hộ nhân dân chống thuế thân, ông xã Nguyên đánh tên Tây Đen ở đồn Kiểm Lâm đường kéo, ông Nguyễn Ngàng, xã Trưởng dùng chai đập đầu một tên Pháp, khi hắn bức cung một cán bộ cách mạng v.v…Bọn thực dân Pháp đánh hơi có Cộng sản cầm đầu, chúng ra lệnh bắt Phan Ngọc Hiển. Do không có chứng cứ chúng phải thả nhưng cấm không cho đồng chí dạy học nữa. Lãnh đạo điều động đồng chí chuyển vùng hoạt động lên Cà Mau và Sa Đéc. Tiệm sách dân lập cũng bị đóng cửa.
Tháng 10 năm 1935, Chi bộ xã Tân Ân được thành lập do đồng chí Lê Văn Hoành làm Bí thư. Phong trào nông dân được phát triển mạnh mẽ. Đồng chí Nguyễn Văn Uông tiếp tục củng cố các tổ chức nông dân, tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chủ yếu là nâng cao tinh thần và đào tạo thanh niên nông dân sớm giác ngộ giai cấp, hướng dẫn họ đấu tranh chống lại sự nô dịch của bọn phong kiến, địa chủ và bọn thực dân xâm lược.
Tại Khánh An (U Minh) vào khoảng năm 1935, Hương quản Chiêu bán đất của y cho Lâm Văn Tỉnh (Ba Tỉnh). Ba Tỉnh là dân giàu có ở nhà lầu, khi đi lại có ghe bầu. Năm 1936, Ba Tỉnh cho đào con kinh chữ L từ mé sông Cái Tàu lên 2 cây số rồi bọc xuống hậu Xẻo Tre. Sau khi đào xong Ba Tỉnh đưa tá điền từ Giá Rai xuống hơn 100 hộ và hàng trăm đôi trâu vào cày bừa. Việc làm ngang ngược này đụng phải sức đấu tranh của nông dân. Ba Tỉnh và Hương quản Chiêu cho tuần khạo Thìn tổ chức đánh bà con nông dân, quyết dùng vũ lực cướp phần đất do bà con khai phá. Quá căm phẩn, các ông Trương Văn Bộ, Trương Văn Thiệt, Trương Văn Sang, Võ Văn Hơn, Võ Văn Mẹo, Trương Văn Nghĩa quyết đánh trả. Cuộc xô xát diễn ra tại ngọn Xẻo Tre. Trận này ông Trương Quang Bộ và nhiều người khác bị thương. Quyết trả thù, ông Trương Văn Thiệt cùng người thân của mình mai phục gần nhà Bếp Năm (lộ sông Cái Tàu) đón đánh Ba Tỉnh và Hương quản Chiêu. Trương Văn Thiệt dùng phãng chém Hương quản Chiêu làm ông ta bị thương nặng phải chở ra Cà Mau điều trị. Sau đó tên tuần khạo Thìn lại giở trò giựt đất của nông dân tại Giồng Nổi. Vùng đất này do các ông Năm Hội, Tám Hoà, Chín Dành khai phá và canh tác, Tám Hoà lại vác phãng xuống chém Ba Tỉnh vì Ba Tỉnh là chủ mưu.
Đến khi Mặt trận Dân chủ Đông Dương ra đời, các ông Trương Văn Dương, Võ Văn Tài vận động bà con kiện bọn cướp đất, toà tuyên án: “Ba Tỉnh tự bao chiếm trái phép, phải trả đất cho nông dân”. Trong thời kỳ này, ở U Minh còn nhiều cuộc nông dân đấu tranh với bọn địa chủ để giành đất và giữ đất, như: Dương Đình Mão (Rạch Bà Áng) chém Hương thân Nuôi; Huỳnh Tiến Hạo (Rạch Tắc) chém Xã trưởng Huỳnh Văn Cao; Trà Văn Do (Hàng Gòn) đấu tranh với cha con Tây Rôly…
Ở Thới Bình, anh em nông dân tay rìu đường củi số 1 (đường củi Bảy Cò) đánh bọn làng Thới Bình trong đêm coi hát bội tại Đình Thần, nhân lễ Kỳ Yên. Nhiều tên u đầu, bể trán, chui xuống sàn lẫn tránh. Khi Hương hào Giáp dẫn bọn làng lính Thới Bình đi truy bắt bà con không đóng thuế thân, bị con ông Bộ Thính đập cho một cù nèo làm bể trán. Chị Mười Nhơn cũng đánh chém bọn tào cáo, vì chúng đi bắt nấu rượu, đập bể khạp hèm của chị.
Tại kinh Công Nghiệp (Tân Bằng), cha con ông Lê Văn Giác đấu tranh giành đất với Hương quản Tữu gần 3 năm mới giành thắng lợi, gây tiếng vang lớn trong vùng…
III. PHONG TRÀO ĐÔNG DƯƠNG ĐẠI HỘI VÀ NHỮNG CUỘC ĐẤU TRANH CÔNG KHAI BÙNG NỔ
Năm 1936, tình hình Quốc tế và trong nước có nhiều chuyển biến quan trọng. Ở Pháp, Mặt trận Nhân dân Pháp giành thắng lợi trong cuộc Tổng tuyển cử. Chánh phủ Leon Blum được Đảng Cộng sản Pháp ủng hộ lên cầm quyền đã thi hành một loạt chính sách tiến bộ đối với các nước thuộc địa. Bọn phản động thuộc địa ở Đông Dương buộc phải nhượng bộ và nới lỏng một số quyền tự do dân chủ, đại xá tù chính trị.
Ngày 16 tháng 7 năm 1936, Đảng Cộng sản Đông Dương tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương. Hội nghị đánh giá cao vai trò của giai cấp nông dân và mối liên hệ chặt chẽ giữa giai cấp nông dân và công nhân. Hội nghị chủ trương thành lập Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương (sau đổi thành Mặt trận Dân chủ Đông Dương) nhằm tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân, các lực lượng dân chủ, tiến bộ vào mặt trận, đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ: Tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do đi lại, xuất dương, ngày làm 8 giờ, ân xá chính trị phạm, có luật lao động cho thợ thuyền, mở rộng các cơ quan kinh tế, tài chính, hội đồng quản hạt, viện dân biểu v.v…
Tháng 7 năm 1936 tổ chức Hội được gọi là Hội Nông dân phản đế đông dương
Chính phủ Mặt trận Bình dân Pháp cử một phái đoàn sang điều tra tình hình ở Đông dương, do GODA dẫn đầu. Trung ương Đảng ra lời triệu tập Đông Dương Đại hội, một hình thức đoàn kết các dân tộc Đông Dương, tiến hành thành lập các tiểu ban trù bị cho Đông Dương Đại hội và tiến tới thành lập Mặt trận Dân chủ Đông dương.
Ngày 13 tháng 8 năm 1936, cuộc họp trù bị cho Đông Dương Đại hội được triệu tập tại Sài Gòn có 400 đại biểu, phần lớn là đại biểu của nông dân và nhân dân lao động.
Ta tiếp tục tranh thủ thời cơ, đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục quần chúng, phát huy ảnh hưởng Đảng trong nhân dân. Các báo: Lao động, Dân chúng, Trung lập và các tài liệu của Đảng… được lưu hành đến tận cơ sở thị xã, thị trấn và nhiều vùng nông thôn trong tỉnh.
Tháng 10 năm 1936, thực hiện chủ trương của Liên Tỉnh ủy Hậu Giang, Chi bộ thị trấn Cà Mau tổ chức thành hai Chi bộ công khai và bí mật (chi bộ công khai gồm 5 đồng chí do Lâm Thành Mậu làm bí thư; chi bộ bí mật do đồng chí Phạm Hồng Thám làm bí thư). Các địa phương khác đều khẩn trương tổ chức các Ủy Ban hành động như: Tân Hưng Tây, Tân Ân, Năm Căn. Nhiệm vụ của Ủy Ban hành động là hướng dẫn bà con nông dân và các tầng lớp nhân dân đấu tranh cho quyền lợi bức xúc hàng ngày, cổ động cho phong trào Đông Dương Đại hội và thành lập Mặt trận Dân chủ Đông Dương, đồng thời tập hợp nguyện vọng của nhân dân chuẩn bị phản ánh cho phái đoàn điều tra của Chính phủ Pháp sắp sang nước ta.
Được sự hướng dẫn của các Ủy Ban hành động, các đoàn thể Nông dân, Thanh niên, Phụ nữ các tổ chức địa phương hội họp, thảo luận, lập bản dân nguyện, cử người đi lấy chữ ký, cử đại biểu đi dự hội nghị cấp trên. Bà con nông dân khắp nơi trong tỉnh đã nhiệt liệt hưởng ứng phong trào này. Tất cả là những đợt sinh hoạt chính trị rộng lớn nhằm giác ngộ nông dân về các quyền lợi thiết thân của mình và quyền lợi của giai cấp, dân tộc.
Nhiều băng rôl lớn treo ở các ngã đường, các thành cầu ngang sông với nội dung như:
- Hoan hô Đông Dương Đại hội!
- Mặt trận Dân chủ Đông Dương vạn tuế!
- Nhiệt liệt chào mừng phái đoàn điều tra của Chính phủ Mặt trận Nhân dân Pháp!
Tại Cà Mau Ủy ban hành động tổ chức một cuộc mít tinh trên 2.000 người dự, kêu gọi toàn dân đấu tranh đòi thực hiện luật lao động, ngày làm 8 giờ, đòi bỏ thuế thân và giảm các sắc thuế khác. Anh Nguyễn Văn Nhung, Chủ tịch Uỷ ban hành động nói lên mục đích hoạt động của Uỷ ban hành động, tuyên truyền Đông Dương Đại hội và Mặt trận Dân chủ thống nhất Đông Dương, Đội Tuyên truyền xung phong của quận Cà Mau do anh Thợ Vẽ và chị Hai The là diễn giã có sức thuyết phục lớn. Chị Hai The đã diễn thuyết nhiều cuộc mít tinh ở Cái Rắn, Tân Hưng Tây, Rạch Rập. Những cuộc mít tinh đã ảnh hưởng rất sâu sắc trong bà con nông dân.
Tại Tân Ân, Chi bộ tổ chức Hợp tác xã Dân lập để tập hợp nông dân vào các tổ chức công khai hợp pháp nhằm chống đầu cơ, bóc lột, chống sưu cao thuế nặng, phạt vạ vô cớ, chống áp bức, hà hiếp, đánh đập của bọn làng lính, cặp rằn. Uỷ ban hành động Tân Ân phát động nhân dân lấy chữ ký ghi các yêu sách ghi vào đơn dân nguyện, đòi bãi bỏ thuế Hải đông là loại thuế đánh vào dân làm biển, bỏ thuế công xâu rừng, đánh vào người khai thác rừng. Hợp tác xã Dân lập đấu tranh chống bọn chủ bao người hoa ép giá mua các mặt hàng thủy sản, nhân dân các xã Tân Ân, Năm Căn, viên An làm đơn kiện tên xếp ở Hòn Khoai không cho nhân dân chở nước ngọt ở Hòn.
Tháng 6 năm 1937, Chi bộ xã Phong Lạc được thành lập gồm 3 đồng chí do đồng chí Trần Văn Đại làm Bí thư. Cùng thời gian này, Chi bộ xã Khánh Bình được thành lập gồm 6 đồng chí, do đồng chí Võ Hoành làm Bí thư. Tại xã Phong Lạc đã nổ ra các cuộc đấu tranh của hàng chục hộ nông dân chống địa chủ Dương Thị Kiểu cậy quyền cướp đoạt ruộng đất của họ. Cuộc đấu tranh buộc Tòa án thực dân phải xử án tù Dương Thị Kiểu. Ở xã Khánh Bình, ông Dương Văn Thinh dẫn đầu nông dân kinh Hào Sai đuổi chém địa chủ Hương Sư Minh và bọn tay chân, buộc hắn phải trả lại những quyền lợi chính đáng của bà con nông dân. Tại Cà Mau các chị Sáu Trường, Năm Hô, Lương Thế Trân vận động bà con nông dân bị bắt làm phu trên tuyến lộ Cà Mau - Năm Căn đấu tranh với bọn thực dân đòi cấp gạo ăn tại chỗ, cho nước đủ uống và phải trả đủ tiền công. Hàng nghìn anh em nông dân kéo vào thị trấn Cà Mau đưa yêu sách. Bọn địch xoa dịu, sau đó phải giải quyết những đòi hỏi do anh em nông dân nêu ra.
Chi bộ xã Tân Hưng Tây phân công đảng viên vận động nông dân làm đơn gửi đến chính quyền quận Cà Mau xin được cấp đất công điền với lý do nông dân chưa có đất làm ruộng, đồng thời yêu cầu Nhà nước lập nhà băng dân khố cho dân nghèo vay nhẹ lãi. Lúc đầu bọn chúng bác đơn và hù doạ rằng, những người đưa đơn là do Cộng sản xúi dục. Cán bộ ta trang bị lý lẽ cho bà con tiếp tục đấu tranh; cuối cùng chúng phải chấp nhận giải quyết cấp đất cho mỗi nhân khẩu từ 18 tuổi trở lên được 10 ha đất rừng để khai phá làm ruộng.
Tháng 3 năm 1937, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp, đề ra đường lối chính trị và phương pháp tổ chức mới, quyết định lấy tên Nông Hội thay Nông Hội đỏ. Ở nông thôn các tổ chức của nông dân rất đa dạng như: Hội cấy, Hội gặt, Hội thêu may, Hội nữ công… Những hình thức này đã thu hút đông đảo nông dân vào tổ chức cùng đấu tranh giành quyền lợi cho giai cấp mình.
Tháng 7 năm 1937, Hội nghị Đảng bộ quận Cà Mau được thành lập, Hội nghị bầu Ban Chấp hành do đồng chí Phạm Hồng Thám làm Bí thư. Thời gian này, đồng chí Phan Ngọc Hiển được điều động về Ban Biên tập Báo Lao động - cơ quan ngôn luận của Liên hiệp Công đoàn Nam kỳ ở Sài Gòn. Sau đó đồng chí được phân công trở về phụ trách tờ báo của tỉnh Bạc Liêu. Với ngòi bút sắc sảo của mình, Phan Ngọc Hiển lên án bọn thực dân địa chủ bóc lột nông dân, hướng dẫn nông dân đứng lên đấu tranh đòi quyền lợi trước mắt cũng như lâu dài của mình.
Một sự kiện nổi bật của nông dân Cà Mau trong thời kỳ này là cuộc đấu tranh của 500 hộ dân xã Khánh Bình chống tên địa chủ Nguyễn Cao Hoài gian ác. Nguyễn Cao Hoài là tên địa chủ “dân Tây” có nhiều thế lực với bọn thực dân, hắn ngang nhiên bao chiếm hàng nghìn ha ruộng đất của bà con nông dân đã khai khẩn từ bao đời, từ kinh Công Nghiệp qua vùng Hào Sai; hắn bắt nông dân phải làm tớ tá nhận mướn ruộng của hắn. Bà con nông dân chống lại, hắn hăm doạ rồi cho tá điền của hắn đến nhổ mạ, bắt bà con phải dời nhà vào làm tá điền cho hắn. Được sự lãnh đạo của Chi bộ, hàng trăm nông dân dùng gậy gộc chống lại, kiên quyết không dỡ nhà, không vào làm tá điền.
Tháng 10 năm 1937, Nguyễn Cao Viên em ruột Nguyễn Cao Hoài cùng hai tên Năm Miên, Sáu Nữ và một lũ côn đồ kéo vào kinh Hào Sai đánh đập bà con nông dân, buộc phải dỡ nhà, bà con nông dân quyết tử chống lại, tên Sáu Nữ dùng gậy đập chết anh Phạm Văn Lộc, một hội viên tích cực của Hội Nông dân tương tế (Anh Lộc là chồng chị Trần Thị Đải, chị thứ hai đồng chí Trần Văn Thời) bọn chúng vùi xác anh Lộc dưới ruộng mấy ngày.
Trước cái chết của anh Lộc, có sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ và Quận ủy Cà Mau, đồng chí Võ Hoành, Bí thư xã Khánh Bình bố trí trên 500 nông dân chở tử thi anh Lộc đến dinh Quận trưởng Cà Mau. Đồng chí Lê Tồn Khuyên là đảng viên hợp pháp của ta tại nhà Dây Thép Cà Mau đã điện cho báo chí ở Sài Gòn. Đồng chí Nguyễn Công Trung và Nguyễn Văn Quang với tư cách ký giả của Báo Dân chúng xuống Cà Mau chụp hình anh Phạm Văn Lộc và viết bài điều tra về vụ giết người dã man này.
Gia đình và bà con nông dân làm đơn tố cáo anh em Nguyễn Cao Hoài, đưa yêu sách lên thống đốc Nam kỳ và Chính phủ Pháp đòi trừng trị kẻ giết người, bắt chúng bồi thường sinh mạng cho nạn nhân và buộc chính quyền phải công nhận quyền sở hữu ruộng đất của bà con nông dân do chính tay họ khai khẩn từ lâu. Nhiều tờ báo tiếng Việt, tiếng Pháp ở Sài Gòn cũng lên tiếng tố cáo tội ác của bọn địa chủ Nguyễn Cao Hoài, yêu cầu chính quyền trừng trị những kẻ giết người.
Dư luận bất bình của nhân dân ta đã trở thành dư luận sôi nổi của nhân dân Pháp. Mặt trận bình dân Pháp cử luật sư LOYE và Lý Bình Huê đứng ra bênh vực ủng hộ nông dân. Nhà cầm quyền thực dân buộc phải ra lệnh bắt giam Nguyễn Cao Viên cùng bộ hạ. Sau đó kết án bọn Nguyễn Cao Hoài cùng 3 tên tòng phạm sát nhân từ 3 đến 5 năm tù giam và bồi thường nhân mạng cho anh Lộc 1.200 đồng tiền đông Dương ngân hàng. Họa đồ Lý (tức Tào Văn Tỵ) đã tham gia đo đạc, khẳng định ranh giới đất đai làm địa bộ, buộc Nguyễn Cao Hoài trả đất cho nông dân. Đây là cuộc đấu tranh thắng lợi vang dội lần đầu tiên của nông dân dưới sự lãnh đạo của Đảng ở một nước thuộc địa của thực dân Pháp, đánh gục bọn địa chủ, cường hào có thế lực lớn và là chỗ dựa của bọn thực dân cướp nước.
Uỷ ban Hành động các nơi khác cũng ra sức hướng dẫn nông dân chống cướp đất, giành quyền dân sinh dân chủ như: ông Hai Chiêu và bà con kinh xáng Thợ Mai chống địa chủ Trần Trinh Trạch cướp đất. Khi Tòa án Bạc Liêu xử ông phải giao đất cho địa chủ, cán bộ ta hướng dẫn ông Hai Chiêu lợi dụng Toà án để vạch trần bộ mặt bọn thực dân Pháp. Trước Toà, ông Chiêu dõng dạc nói: “thời buổi này hễ đa kim ngân thì phá luật lệ”. Ông vạch rõ âm mưu bọn địa chủ dựa vào thế lực thực dân cướp đất nông dân bằng thủ đoạn bao chiếm… Ông Hai Chiêu đã kiên trì đấu tranh suốt 13 năm trời, 4 lần bị bắt, bị giam, cuối cùng đã giành thắng lợi. Uỷ ban Hành động còn đi sâu vào nông thôn, vận động nông dân kiên quyết giữ đất, cuối cùng bọn chúng không cướp được đất của nông dân ở khu vực này.
Năm 1937, do bị thất mùa nên phong trào nông dân đấu tranh chống địa chủ vét sân càng rộng lớn. Sau mùa cấy năm 1938, nạn đói lan tràn, phần lớn bà con nông dân tá điền đều ăn cháo hoặc bồn bồn, bông súng; nhiều gia đình không còn gạo nấu cháo, trẻ em thiếu đói vô cùng khốn khổ. Ngày 4 tháng 10 năm 1938, các tổ chức Tương tế ái hữu cùng nhiều tổ chức hợp pháp, bất hợp pháp của Thanh niên, Phụ nữ, Nông dân và các nghiệp đoàn, như: thợ may, thợ bạc, thợ mộc, thợ hớt tóc, chị em mua gánh bán bưng cùng phối hợp, với trên 1.000 nông dân các xã Khánh An, Khánh Bình, Tân Hưng, Thạnh Phú, Phong Lạc biểu tình đến dinh quận Cà Mau đòi nhà cầm quyền phải cứu trợ nạn đói, giải quyết công ăn việc làm cho dân, bãi bỏ thuế thân, giảm và hoãn các thứ thuế khác. Mấy trăm ghe xuồng tấp nập ghé bến chợ Cà Mau. Tên Quận trưởng cho bọn cảnh sát và lính tuần hành khủng bố, giải tán cuộc biểu tình. Đồng bào tại chỗ, trên chợ, dưới sông từ chùa bà Mã Châu đến chợ nhà lồng đồng thanh la hét “không được đánh đập dân đói!”. Nhưng bọn địch vẫn dùng dùi cui, roi gân bò quất xối xả vào đoàn biểu tình. Bà con kiên quyết chống cự; tiếng hô “đả đảo khủng bố” vang dậy cả bầu trời thị trấn Cà Mau. Đó là tiếng hô của đoàn biểu tình hoà với tiếng hô của các tầng lớp nhân dân Cà Mau.
Trước tình hình hỗn loạn xô xát diễn ra, đồng chí Trần Thị Bướm nẩy ra sáng kiến, cùng một số chị em trong đoàn biểu tình chạy xuống mé sông nhận chìm mấy chiếc xuồng của mình rồi hô hoảng lên: “Làng xóm ơi cảnh sát khủng bố làm chìm xuồng chết con tôi rồi, cứu con tôi với!”. Các chị em cùng nhau vừa lặn mò, vừa kêu khóc hoà lẫn với tiếng hô khẩu hiệu dồn dập vang dội của mấy ngàn người, làm cho bọn cảnh sát hoảng hốt, ngưng khủng bố; có mấy tên lính cỡi quần áo ngoài cùng với các chị lặn mò tìm xác trẻ em bị chìm xuồng, tất nhiên là chẳng thấy gì cả.
Trước không khí hỗn loạn, các đồng chí hoạt động công khai như: Tào Văn Tỵ, Nguyễn Công Trung, Văn Trung Thành, tưởng là chuyện có thật, ai nấy đều phẫn nộ. Các đồng chí gọi điện lên Tỉnh trưởng Bạc Liêu và báo cho Thống đốc Nam kỳ, yêu cầu can thiệp trước tai hoạ của dân đói. Tên chủ tỉnh Bạc Liêu trực tiếp đến Cà Mau tìm cách đối phó. Chúng bắt 14 người giải về Toà án Bạc Liêu, nhưng Tòa cho rằng những người này không có tội. Vài ngày sau theo lệnh của tên chủ tỉnh, hai ghe chài chở đầy lúa đến Cà Mau. Tên quận Trưởng ra yết thị: Ai thiếu ăn, mỗi người được cấp 2 giạ lúa, ai không có công ăn việc làm thì đi đắp lộ Cà Mau - Tân Phú, chính phủ sẽ trả công.
Cuộc đấu tranh ở Cà Mau làm chấn động cả nước; các báo ở 3 miền Nam - Trung – Bắc đều lên tiếng ủng hộ, đòi Nhà nước Pháp cùng các nhà hảo tâm cứu tế cho dân đói. Ủy ban Cứu tế dân đói ở Cà Mau được thành lập. Trạng sư LOYE, một người Pháp có cảm tình với cách mạng Việt Nam làm chủ tịch, bà Nguyễn Thị Huỳnh làm phó chủ tịch. Lời Hiệu triệu của Ủy ban Cứu tế dân đói ở Cà Mau được đăng lên báo Dân chúng ngày 20 tháng 12 năm 1938 và nhiều báo khác ở Sài Gòn.
Nhân dịp tết Nguyên đán năm 1938, Chi bộ xã Tân Hưng tổ chức mít tinh ngoài trời có hơn 200 người dự. Bọn tề lính được tin đến giải tán vì chúng cho rằng tổ chức mít tinh ngoài trời là vi phạm pháp luật. Tại Định Thành trên 300 nông dân kéo đến điền chủ buộc chúng phải cứu đói.
Điểm nổi bật của của thời kỳ này là phong trào đấu tranh của nông dân rất phong phú, đa dạng. Nông dân đã trưởng thành trong đấu tranh cách mạng; tổ chức Nông hội tập hợp được đông đảo lực lượng nông dân tham gia cuộc vận động đòi quyền dân sinh, dân chủ tiến tới chống chiến tranh, chống khủng bố.
IV. NÔNG DÂN CÀ MAU TRONG CUỘC KHỞI NGHĨA NAM KỲ
Năm 1939, khi chiến tranh Pháp - Đức diễn ra, Chính phủ thực dân ban hành lệnh tổng động viên ở Đông Dương, giải tán các Hội Ái hữu và cấm đoán các hình thức tập hợp quần chúng khác. Bọn chúng ra sức khủng bố các cơ sở cách mạng vì rất nhiều nơi đã xuất hiện truyền đơn chống khủng bố, chống chiến tranh, đòi tự do cơm áo… Ở Cà Mau cơ sở ta cũng đưa truyền đơn đến được dinh quận, ở Bạc Liêu ta đưa truyền đơn vào tận dinh tên Chánh tham biện và các cơ quan của địch.
Nhiều vùng nông thôn, ta đưa truyền đơn vào nhà đồng bào (không rãi dọc đường), bọn địch cay cú ra sức lùng bắt cho được cán bộ của ta. Ở Phong Lạc, bọn tề xã tới vây nhà bà má Ba, cơ quan Tỉnh ủy đóng; ở Tân Hưng, chúng tìm bắt Ban quản lý Hợp tác xã Công Thành (điểm liên lạc của ta), cấm các hoạt động của Uỷ ban hành động. Tháng 9 năm 1939, 14 tờ báo ở Sài Gòn bị đóng cửa, trong đó có: Tờ Dân chúng, Lao động do Đảng ta chủ trương; nhiều người viết báo và các đồng chí hoạt động công khai bị bắt. Do đó, ta phải chuyển vào hoạt động bí mật và hướng về xây dựng thực lực ở nông thôn, kết thúc thời kỳ hoạt động công khai trong Mặt trận dân chủ; trong khi đó các tổ chức của quần chúng vẫn tiếp tục hoạt động như: Vạn vần đổi công, bóng đá, đờn ca, thêu may.
Tại tỉnh Bạc Liêu, bọn thống trị và tay sai tăng cường vơ vét tiền của và bắt thanh niên đi lính, đưa sang Xiêm và ra sức lùng bắt các cán bộ cách mạng và nhiều nhân sĩ, trí thức yêu nước. Trung ương Đảng ra chỉ thị khẩn cấp cho các cấp bộ Đảng phải kịp thời chuyển vào bí mật. Thường vụ Tỉnh ủy chuyển về Lung Lá Nhà Thể (Tân Hưng), tuy nhiên nhiều cán bộ của ta bị bắt, kể cả đồng chí Trần Văn Đại (Tám Đại) Bí thư Tỉnh ủy.
Từ ngày 6 đến ngày 8 tháng 11 năm 1939, Hội nghị lần thứ 6 của Trung ương đã phân tích tình hình và khẳng định: “Cách mệnh giải phóng dân tộc Đông Dương sẽ thắng” và “Vấn đề giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu”, hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Thống nhất Dân tộc phản đế Đông Dương, thay cho Mặt trận Dân chủ Đông Dương. Ngày 30 tháng 12 năm 1939, Trung ương ra thông báo nêu rõ: “Muốn giữ gìn quê hương xứ sở, muốn cứu vớt đồng bào thì chỉ phương pháp duy nhất, là nổi dậy đánh đổ đế quốc Pháp, đánh tan Phát-xít xâm lược Nhật, làm cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc”.
Sau khi đồng chí Trần Văn Đại, Bí thư Tỉnh ủy bị bắt, đồng chí Thái Văn Đẩu, Xứ uỷ viên, được Xứ ủy phân công phụ trách chỉ đạo tỉnh Bạc Liêu. Một số Chi bộ của ta vẫn còn tiếp tục hoạt động mạnh mẽ như: Thới Bình, Tân Hưng, Cà Mau, Phong Lạc, Khánh Bình, Tân Hưng Tây. Tuy địch cấm các tổ chức nghiệp đoàn ái hữu hoạt động nhưng các tổ chức vạn vần, văn nghệ, thể thao của nông dân vẫn giữ được tổ chức và sinh hoạt.
Khi Mặt trận Phản Đế ra đời, các tổ chức đoàn thể và Hội ái hữu, nghiệp đoàn trước đây được các Chi bộ giáo dục và tập hợp vào các Hội Nông dân phản đế, Thanh niên, Phụ nữ phản đế. Các tổ chức tuyên truyền xung phong của ta được thành lập và liên tục xuất hiện ở nhiều nơi trong tỉnh, (những diễn giả gồm các anh Thợ Vẽ, chị Hai The, chị Bảy Âu, chị Hai Được, anh Hai Sớm, anh Hai Nhâm) khẩu hiệu tuyên truyền là “Chống Phát-xít, chống đế quốc chiến tranh, chống bắt thanh niên đưa qua Xiêm, đưa qua Pháp, ủng hộ Trung Hoa kháng Nhật, ủng hộ Liên bang Xô Viết”. Cùng với chủ trương tịch thu ruộng đất của thực dân Pháp và địa chủ phản động chia cho dân cày nghèo. Chủ trương đáp ứng nguyện vọng bức thiết của đại đa số nông dân, làm cho phong trào nông dân càng bùng phát mạnh mẽ.
Chủ trương của Đảng được các Đội tuyên truyền xung phong cùng cán bộ các địa phương phổ biến sâu rộng trong nhân dân, phong trào luyện tập võ nghệ, đánh roi, luyện kiếm sôi nổi khắp nơi. Nhiều phụ nữ nông dân cũng tham gia luyện tập quân sự, đi quyền, phóng phi tiêu. Các đội tuyên truyền sung phong do chị Hai The, Nguyễn Thị Bời thực hiện trước khi diễn thuyết còn ca vọng cổ hoặc đánh võ, đánh roi, múa kiếm, bà con nông dân rất say mê, bất chấp làng lính; ngoài các cuộc tuyên truyền công khai, ta còn rải truyền đơn, treo băng cờ, biểu ngữ, phố biến sách báo, phát động nhân dân tập dượt, chuẩn bị vũ khí thô sơ tự tạo và củng cố các tổ chức đoàn thể chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc chiến đấu mới, khi có thời cơ thuận lợi.
Tháng 5 năm 1940, Tỉnh uỷ triệu tập Hội nghị đại biểu tỉnh Đảng bộ tại tắc Ông Do, xã Tân Hưng Tây, hội nghị bầu Ban Chấp hành mới gồm 6 đồng chí, do đồng chí Trần Văn Thời làm Bí thư. Các tổ chức quần chúng, như: Hội Công nhân Phản đế, Hội Nông dân Phản đế được phát triển rộng rãi với khẩu hiệu “Đánh đổ đế quốc và bọn vua quan phong kiến tay sai, giải phóng dân tộc”.
Tháng 6 năm 1940, các đồng chí Tạ Uyên, Phạm Hồng Thám đại diện Xứ ủy đến tỉnh Bạc Liêu truyền đạt chủ trương chuẩn bị bạo động khởi nghĩa của Xứ ủy.
Khi các Chi bộ và các đoàn thể nhận được chủ trương và quyết tâm của Đảng, một phong trào nông dân hưởng ứng nồng nhiệt chuẩn bị cho khởi nghĩa vũ trang diễn ra với khí thế vô cùng sôi nổi. Các đội tự vệ được thành lập hầu hết là thanh niên nông dân tham gia; rất nhiều xã thành lập đội du kích, trang bị vũ khí thô sơ như: dao mác, tầm vông, phi tiêu, ná lẫy, phong trào tập luyện quân sự, đánh võ, sắm sửa vũ khí, diễn ra mạnh mẽ trong các đội du kích tự vệ. Xã Tân Hưng Tây có nhiều ấp lập tổ tự vệ hàng ngày luyện tập quân sự. Đồng chí Trần Văn Bỉnh vừa là hội viên Hội Nông dân Phản đế, vừa là đội viên đội du kích xã. Toàn xã có hàng trăm hội viên phản đế; lúc đó không có súng, bà con nông dân đẻo súng cây, súng bẹ dừa, rèn dao găm, mã tấu để tập luyện. Ông thợ Châm, ấp Cái Cám rèn trên 100 mã tấu, cùng hàng ngàn phi tiêu để trang bị cho du kích và dân quân tự vệ. Ở Cái Đôi Vàm có ông Tám Muôn, Năm Nhung và Trần Minh Son làm được súng chòi ngòi, súng cò máy đá. Ở các xã Phong Lạc, Khánh Bình, Khánh An hội viên trong các tổ chức đoàn thể, quyên góp sắt thép, mâm thau, nồi đồng phục vụ cho việc rèn đúc và sản xuất vũ khí; các ấp, xã đều có lò rèn làm việc suốt ngày đêm. Lò rèn ở xã Khánh Bình, Khánh An ngoài việc rèn mã tấu, xà no, anh em còn nghiên cứu làm trái nổ như: mìn, lựu đạn để chuẩn bị khởi nghĩa. Xã Thạnh Phú có các anh Thảnh, Chính (Ba Khía), chị Mười Xuân Hương, Phan Văn Xoàn; xã Tân Hưng có các anh Ba Cao, Tô Văn Tỏ, Dương Thuần Chương, Nguyễn Văn Quảng… đều tập trung phát động phong trào chuẩn bị khởi nghĩa. Các tổ chức Nông dân, Thanh niên, Phụ nữ được giao nhiệm vụ chuẩn bị băng, cờ, khẩu hiệu, truyền đơn, tham gia các cuộc diễn thuyết, mít tinh, chuẩn bị lực lượng bạo động và vạch kế hoạch bắt bọn hội tề và xáp chiến với lính khố xanh. Nội dung tuyên truyền là cổ động là kêu gọi đồng bào tham gia cách mạng lật đổ chế độ cường hào ác bá, giành lại ruộng đất cho dân cày.
Bọn địch đánh hơi, ra sức lùng sục, rình rập bắt bớ cán bộ; bọn chúng bắt dân phải thắp đèn dầu trước nhà nếu ai không thắp đèn, bị tình nghi là Cộng sản. Mặc dù vậy, bà con ta chẳng những không ngán sợ mà còn hết lòng che chở, giúp đỡ cán bộ hoạt động; nhiều người lén lút rèn phi tiêu, gươm, kiếm, tiếp tế cho hàng trăm người ăn uống để khởi nghĩa; có người cho mượn nhà làm nơi hội họp, chọn chỗ kín đáo để anh em viết truyền đơn, biểu ngữ, khẩu hiệu; có người nuôi chứa và che dấu cán bộ ở ngoài vườn suốt cả tháng trời.
Tình hình trong nước khi Phát-xít Nhật đổ bộ lên Đồ Sơn tình hình trong nước diễn ra phức tạp cho nên Xứ ủy quyết định khởi nghĩa ở Nam Bộ. Ngày 05 tháng 12 năm 1940, đồng chí Trần Văn Thời triệu tập Hội nghị đại biểu tại Lung Lá Nhà Thể, quyết định nổ ra cuộc khởi nghĩa vào đêm ngày 13 tháng 12 năm 1940, Hòn khoai là nơi khởi nghĩa đầu tiên của tỉnh. Sau đó lấy vũ khí về đất liền cùng lực lượng các xã lân cận đánh lấy Năm Căn. Kế hoạch khởi nghĩa còn được tiến hành ở khu vực Cà Mau và Bạc Liêu.
Bà con nông dân khắp nơi trong tỉnh hưởng ứng nồng nhiệt. Tại xã Tân Hưng Tây lực lượng du kích ẩn náu tại rừng Cái Cám được bà con vận động tiếp tế lương thực, thực phẩm, chuẩn bị xuồng, dầm chèo, bánh trái, gà vịt. Bà con lấy ớt phơi khô tán nhuyễn trộn với tro và tiêu bột làm vũ khí gọi là “bụi ớt” (loại vũ khí này sử dụng khi xáp lá cà sẽ tung vào mắt địch, làm cho chúng không thấy đường). Các xã Phong Lạc, Khánh Bình, Khánh An, đội tự vệ được thành lập trong các Hội phản đế, mỗi xã có đội du kích trang bị mã tấu, dao, mác, xà no; bà con nông dân tham gia tự vệ, du kích, đêm ngày luyện tập quân sự, chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc khởi nghĩa. Tại xã Tân Hưng, Đội du kích tập trung tại Lung Lá Bàu Sen để luyện tập chiến đấu bằng vũ khí thô sơ: dao găm, dao phay, búa tạ để khi khởi nghĩa xông vào phá khám Cà Mau.
Ở Hòn Khoai đồng chí Phan Ngọc Hiển đã giác ngộ được 7 gia đình bà con nông dân trên Hòn, có con em đang làm việc cho địch trở thành lực lượng cách mạng(1). Do địch tuần tra chặt chẽ, đồng chí Phan Ngọc Hiển không về để dự cuộc họp ngày 05 tháng 12 năm 1940. Ngày 12 tháng 12 năm 1940, khi Bông Văn Dĩa vượt biển mang lệnh khởi nghĩa ra Hòn Khoai, Phan Ngọc Hiển tổ chức họp tại Dồ Tre để bàn kế hoạch khởi nghĩa, anh em nhất trí và phân công từng nhóm, từng người, tất cả đều hạ quyết tâm giành thắng lợi. Một trong những nhiệm vụ đặt ra là làm thế nào bảo vệ được đồng bào, đặc biệt là gia đình những người tham gia khởi nghĩa, vì chắc chắn thế nào địch cũng tái chiếm Hòn Khoai và khủng bố đồng bào.
Các chị Ba Quýt, Sáu Ký cùng anh em vận động các gia đình theo đoàn quân khởi nghĩa về đất liền sau khi chiến thắng để tránh khủng bố. Tuy là những gia đình cốt cán của cách mạng nhưng việc rời bỏ nhà cửa, đất đai vườn tược là mồ hôi, nước mắt biết bao năm chắt chiu xây dựng, không phải là việc dễ dàng quyết định trong giây lát; nhưng cuối cùng bà con cũng đồng lòng, sẵn sàng hy sinh tất cả vì Đảng! Đồng chí Bông Văn Dĩa đã cùng một số anh em cướp canô của địch cùng các phương tiện để chở các chiến sĩ khởi nghĩa và gia đình họ về đất liền.
Sau chiến thắng Hòn Khoai, địch phản kích, truy bắt cán bộ, chiến sĩ ta. Tuy được đồng bào hết lòng che giấu nhưng cuối cùng nhiều cán bộ, đảng viên vẫn bị bắt, bị xử tử và tù đày tra tấn.
Ngày 12 tháng 7 năm 1941, thực dân Pháp đưa 52 người chúng cho là có liên quan đến cuộc khởi nghĩa Hòn Khoai ra trước Tòa; chúng kết tội 10 người tử hình, 5 người chung thân, 26 người khổ sai(2)
Mười chiến sĩ khởi nghĩa Hòn Khoai đã ngã xuống, nhân dân Cà Mau không cầm được nước mắt. Cái chết của những con người kiên trung, bất khuất, không cam chịu làm nô lệ đời đời cho thực dân Pháp, trở thành ngọn đèn chân lý soi sáng bước đường các thế hệ mai sau. Một người ngã, trăm người xốc tới, đã trở thành khí phách của những con người vùng đất cuối trời Tổ quốc, trong cuộc chiến đấu giành độc lập, tự do cho quê hương, xứ sở sau này.
V. NÔNG DÂN CÀ MAU THAM GIA KHỞI NGHĨA CƯỚP CHÍNH QUYỀN THÁNG 8 NĂM 1945
Từ ngày 10 đến ngày 14 tháng 5 năm 1941, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp lần thứ 8 tại Cao Bằng, dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc; hội nghị khẳng định nhiệm vụ chủ yếu của cách mạng là giải phóng dân tộc. Nghị quyết Hội nghị nhấn mạnh “Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập tự do toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”.
Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập Đồng Minh (Gọi tắt là Việt Minh). Chương trình của Mặt trận Việt Minh nêu rõ “Nông dân ai cũng có ruộng đất để cày cấy, giảm địa tô, cứu đói nông dân trong những năm mất mùa… Bỏ thuế thân và các thứ thuế do Pháp - Nhật đặt ra… Cho dân chúng được tự do khai khẩn đất hoang có Chính Phủ giúp đỡ”.
Tại Cà Mau cuối năm 1941, đồng chí Phạm Hồng Thám (Thanh Phong) từ ngoại ô Sài Gòn, giả làm người buôn bán hàng bông trở về Cái Sắn - Thới Bình, vừa cuốc đất trồng rẫy, vừa bí mật tìm cách bắt liên lạc với các cán bộ của ta, gây dựng lại phong trào. Tháng 11 năm 1941, đồng chí Trần Văn Đại mãn hạn tù, trở lại Phong Lạc, tìm cách móc nối với đồng chí Phạm Hồng Thám, Trần Văn Mơn, Thái Ngọc Sanh, Lê Văn Thạnh… Các đồng chí tiếp tục khôi phục và xây dựng mới Chi bộ và đoàn thể ở Cà Mau, U Minh, Phong Lạc, Tân Hưng, Thới Bình, Khánh Bình, Tân Hưng Tây…
Năm 1942 - 1943, các đồng chí Trần Văn Yến, Nguyễn Văn Uông, Tăng Hồng Phúc, Nguyễn Văn Nhự được ra tù, tìm cách liên lạc nhau, tiếp tục hoạt động. Đầu năm 1943, đồng chí Trần Văn Sớm, Bí thư Ban cán sự Đảng bộ tỉnh nhận được chương trình hành động của Mặt trận Việt Minh do đồng chí Võ Văn Kiệt, Uỷ viên Liên tỉnh Hậu Giang truyền đạt.
Tình hình quốc tế và trong nước lúc bấy giờ chuyển biến rất nhanh, hơn 33 vạn quân Phát-xít Hitle bị Liên-Xô tiêu diệt. Ở nước ta, quân Nhật tràn vào ngày càng đông, chúng ra sức vơ vét lúa gạo, mở đường giao thông, chuẩn bị chiến tranh. Đời sống nhân dân ta vô cùng cơ cực, khốn đốn; trong lúc nhân dân thiếu ăn, chúng lại dùng gạo nấu rượu cồn thay xăng, dùng lúa đốt thay than để chạy các nhà máy. Phát-xít Nhật thực hiện chính sách thu lúa “tạ”, buộc nông dân phải bán lúa theo diện tích cày cấy với giá rẻ mạt không cần biết khi thực thu là bao nhiêu. Cuối năm 1944, giá lúa chúng qui định là 25 đồng/tạ, nhưng do thu hoạch không đủ, nông dân phải mua với giá 700 đồng/tạ để nộp cho Nhật (tăng 32 lần). Số gạo xuất sang Nhật năm 1940 là 460.280 tấn, đến năm 1942 là 961.941 tấn (tăng hơn 2 lần). Do sự cấu kết giữa Pháp và Nhật bóc lột nhân dân ta, làm cho đời sống nhân dân vô cùng khốn khổ; đó là nguyên nhân dẫn đến hơn 2 triệu người chết đói vào cuối năm 1944, đầu năm 1945 ở miền Bắc.
Tháng 2 năm 1943, Hội nghị Thường vụ Trung ương Đảng chủ trương mở rộng hơn nữa Mặt trận Dân tộc thống nhất, không ngừng củng cố và phát triển tổ chức nông dân. Tháng 5 năm 1944, Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị “Sửa soạn khởi nghĩa”. Tháng 8 năm 1944, Đảng kêu gọi toàn dân “Sắm sửa vũ khí đuổi thù chung”.
Ở Cà Mau từ đầu năm 1944, nhiều Chi bộ trong tỉnh được củng cố và hoạt động mạnh mẽ như: Cà Mau, Tân Thành, Thới Bình, Tân Hưng, Tân Hưng Tây, Tân Ân, Phong Lạc… Các tổ chức quần chúng, trong đó có Hội Nông dân Cứu quốc đều được học tập chương trình, điều lệ của Mặt trận Việt Minh, đọc thư kêu gọi của Nguyễn Ái Quốc, các Đội tự vệ chiến đấu, các Tổ Việt Minh thành phần đại đa số đều là nông dân. Ngày 20 tháng 01 năm 1945, Uỷ ban vận động tái lập Đảng bộ Nam kỳ Cà Mau được thành lập tại Lung lá nhà thể do đồng chí Phạm Hồng Thám làm trưởng ban.
Ngày 09 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, độc chiếm Đông Dương; bọn thực dân Pháp đầu hàng. Ở Cà Mau một số bị bắt giam, một số xuống tàu chạy vào Tân Bằng, Cán Gáo, Năm Căn nhưng chúng đều bị Nhật truy bắt.
Ngày 12 tháng 3 năm 1945, Trung ương Đảng ra chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”; chỉ thị nêu rõ “Phát-xít Nhật là kẻ thù chính, các Đảng bộ trong toàn quốc tích cực chuẩn bị lực lượng để hành động kịp thời khi có điều kiện”.
Sau ngày Nhật đảo chính Pháp, một số tù chính trị của ta cũng lần lượt vượt ngục trở về như: chị Mười Hải, Thanh Châu, Bé Liên.
Ngày 09 tháng 8 năm 1945, Hồng quân Liên Xô tiến công vào Đông Bắc Trung Quốc và Bắc Triều Tiên để tiêu diệt quân đội Quan Đông của Nhật, buộc chúng phải đầu hàng. Phát xít Nhật ở Việt Nam và Chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim hoang mang tột độ; bọn Nhật ở Cà Mau khi ra đường cúi gầm mặt, không đeo kiếm, Quận Kế, Cò Hen và tay sai Nhật dao động, rệu rã.
Ngày 16 tháng 8 năm 1945, Quốc dân Đại hội họp thông qua quyết định Tổng khởi nghĩa và cử ra Ủy ban Dân tộc Giải phóng do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.
Ngày 19 tháng 8 năm 1945 theo sự chỉ đạo của Liên Tỉnh ủy, Tỉnh ủy Bạc Liêu quyết định huy động hàng vạn nông dân từ nông thôn kéo ra hòa nhập với các tầng lớp nhân dân tại thị trấn Bạc Liêu, có lực lượng vũ trang tự vệ đi kèm, có cờ đỏ sao vàng, băng, khẩu hiệu đến vây dinh Tỉnh trưởng Bạc Liêu, đòi chúng phải trao trả chính quyền cho nhân dân; tiếng hô khẩu hiệu, tiếng hò hét của nhân dân rung trời, chuyển đất. Tỉnh trưởng Bạc Liêu, Trương Công Thiện trong bộ áo dài khăn đóng ra trước lễ đài đọc bản tuyên ngôn trao chính quyền cho cách mạng. Tiếng vỗ tay, tiếng hoan hô vang dậy - Chính quyền về tay nhân dân.
Tại Cà Mau, 7 giờ sáng 25 tháng 8 năm 1945, hàng chục ngàn người biểu tình tuần hành trên đường phố Cà Mau rồi kéo đến dinh quận, buộc quận trưởng Kế, phải giao chính quyền không được chậm trễ. Ngày 25 tháng 8 năm 1945, lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên nóc dinh quận Cà Mau, đọc tuyên bố lật đổ “Chính quyền bù nhìn” và thành lập “Chính quyền cách mạng”.
Ngày 25 tháng 8 năm 1945, Ủy ban Nhân dân Cách mạng Lâm thời tỉnh Bạc Liêu ra mắt nhân dân tại tỉnh Bạc Liêu, cuộc mít tinh có trên 20 ngàn đồng bào đến dự. Đồng chí Lê Khắc Xương, Bí thư Tỉnh ủy, kiêm Chủ tịch Mặt trận Việt Minh tỉnh Bạc Liêu tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân phong kiến, thành lập chính quyền cách mạng, xác định quyền làm chủ đất nước thuộc về tay nhân dân lao động; các huyện, xã trong tỉnh đồng bào đều kéo về mít tinh hân hoan chào mừng ngày Tổng khởi nghĩa thắng lợi.
Cách mạng tháng Tám thành công đã xoá đi kiếp đời trâu, ngựa của người nông dân gần 100 năm nô lệ. Thắng lợi đó đã đánh dấu những chặng đường lịch sử đầy hy sinh, thử thách, trong đó giai cấp nông dân và nông dân Cà Mau đã trực tiếp cống hiến xương, máu và trí tuệ của mình. Thắng lợi đó thể hiện đường lối cách mạng của Đảng phù hợp với lợi ích và nguyện vọng của đại đa số nhân dân Việt Nam, trong đó nông dân là lực lượng chủ lực quân cách mạng. Ngay từ những tổ chức nghiệp đoàn, Hội Tương tế Ái hữu cho đến Nông Hội đỏ, Hội Nông dân Phản đế, Nông dân Cứu quốc… Từ đấu tranh tự phát đến đấu tranh tự giác là cả quá trình vận động cách mạng, phát huy truyền thống bất khuất kiên cường của những con người “Thà chết chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”. Cuộc khởi nghĩa Tháng 8 năm 1945 thành công là điểm son chói ngời của chân lý đó.
CHƯƠNG III
NÔNG DÂN CÀ MAU XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ
CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG TIẾN HÀNH KHÁNG CHIẾN
CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (1946 – 1954)
I. XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG, KHÁNG CHIẾN CỨU NƯỚC
Cách mạng tháng Tám thành công, Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã đưa người nông dân từ kiếp nô lệ, trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình. Nhà Nước của Dân, do Dân và vì Dân. Nhà Nước của giai cấp Công – Nông đầu tiên ở Đông Nam Châu Á được thành lập, là một bước ngoặt có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với Lịch sử dân tộc và giai cấp Nông dân Việt Nam. Ngày 02 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập tại Vườn hoa Ba Đình, tuyên bố khai sinh Nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa.
Là một bộ phận chiếm đa số trong cộng đồng dân tộc, giai cấp Nông dân giữ vị trí vô cùng quan trọng trong lãnh đạo của Đảng. Hội Nông dân cùng các tầng lớp nông dân đóng góp phần xây dựng chính quyền, chống bọn tay sai phản động, xóa bỏ tàn dư chế độ cũ, hăng hái lao động sản xuất, ổn định đời sống. Trước âm mưu của kẻ thù chuẩn bị xâm chiếm đất nước ta một lần nữa, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ Lâm Thời, Hồ Chủ Tịch thay mặt Trung ương Đảng nêu rõ nhiệm vụ cấp tốc của nhân dân ta là “Chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm”.
Trước mắt tập trung thực hiện phổ thông đầu phiếu và các quyền tự do dân chủ đối với nhân dân, bãi bỏ các thuế bất hợp lý là thuế thân, thuế chợ, thuế đò. Ngày 4/9/1945, Trung ương Đảng phát động xây dựng quỹ độc lập; hai tuần sau, Hồ Chủ Tịch kêu gọi cả nước ủng hộ “Tuần lễ vàng”(1)
Ngày 07 tháng 9 năm 1945, Chính phủ Lâm Thời Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra sắc lệnh bãi bỏ thuế thân; quyết định này thể hiện bản chất của chính thể mới đối với quyền lợi của người nông dân trên phạm vi cả nước.
Đầu tháng 9 năm 1945, trong khi quân dân ta đang nô nức vui mừng trong không khí độc lập tự do, thì bọn thực dân, đế quốc thực hiện âm mưu xâm chiếm đất nước ta một lần nữa. Núp bóng quân Anh, Ấn, từ ngày 06 đến ngày 22 tháng 9 năm 1945, thực dân Pháp đánh chiếm nhiều nơi ở Sài Gòn. Ngày 23 tháng 9 năm 1945, Xứ ủy Nam bộ họp khẩn cấp, thảo luận và quyết nghị “Kiên quyết kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược”; hội nghị quyết định thành lập Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ do đồng chí Trần Văn Giàu làm Chủ tịch. Cuộc kháng chiến ở Nam Bộ bắt đầu bùng nổ.
Ngày 25 tháng 10 năm 1945, quân Pháp mở 2 cuộc hành quân lớn, đánh phá các tỉnh quanh Sài Gòn. Nhân dân Nam bộ thực hiện “Vườn không nhà trống”và thực hiện công tác phá hoại triệt để chống địch.
Khắp các địa phương trong tỉnh bà con nông dân được sự hướng dẫn của Chi bộ, tham gia vào lực lượng du kích, học tập quân sự, chuẩn bị chiến đấu chống địch. Đồng chí Nguyễn Văn Uông tích cực lo tổ chức và phát triển lực lượng du kích, dân quân tự vệ, huy động dân quân và nông dân phá đường, lập phòng tuyến dọc trên quốc lộ Đông Dương (Cà Mau - Bạc Liêu).
Chỉ trong thời gian ngắn, tỉnh thành lập đại đội cộng hòa vệ binh và đội cảm tử quân, các quận có 1 trung đội cộng hòa vệ binh quận, các xã đều có đội dân quân tự vệ, Ủy ban Kháng chiến hành chính tỉnh điều động 1 trung đội cộng hòa vệ binh lên chi viện Mặt trận Sài Gòn. Tham gia lực lượng vũ trang và hậu cần, hầu hết là con em nông dân Cà Mau - Bạc Liêu.
Ngày 25 tháng 11 năm 1945, Trung ương Đảng ra chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc”, chỉ thị nhấn mạnh nhiệm vụ khôi phục sản xuất nông nghiệp, ban hành các sắc lệnh để cải thiện đời sống nhân dân; các ngành Nông nghiệp, Tài chính phải có chính sách khuyến khích nông dân. Trong thư “Gửi nông gia Việt Nam” Hồ Chủ Tịch khẳng định trách nhiệm của giai cấp nông dân Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng của Đảng là “Vì cứu quốc các chiến sĩ đấu tranh ở ngoài Mặt trận, vì kiến quốc nhà nông phấn đấu ngoài đồng ruộng. Chiến sĩ ra sức giữ gìn nước non. Nhà nông ra sức giúp đỡ chiến sĩ. Hai bên công việc khác nhau nhưng thực ra là hợp tác. Cho nên hai bên đều có công với dân tộc, đều là anh hùng”(1)
Thực hiện chủ trương của Trung ương và Tỉnh ủy, Hội Nông dân Cứu quốc tỉnh được củng cố. Ban Chấp hành Hội gồm 7 đồng chí do đồng chí Trần Văn Tốt làm thư ký. Hệ thống tổ chức Hội được củng cố đến xã, ấp, xóm. Hội đã làm nòng cốt vận động nông dân tham gia các phong trào sản xuất, tích cực đóng góp lương thực để nuôi quân, động viên con em tòng quân xây dựng bộ đội, tham gia du kích và dân quân tự vệ chống địch, tham gia phong trào toàn dân vũ trang, luyện tập quân sự, sản xuất vũ khí, hưởng ứng tuần lễ vàng.
Trong khi quân Pháp đánh chiếm các tỉnh Nam bộ, Tỉnh ủy được chủ trương của Trung ương “Tổ chức bầu Quốc hội”; ngày 06 tháng 01 năm 1946, bà con nông dân trong tỉnh nô nức đi bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc Hội. Bà Ngô Thị Huệ, Hội Phụ nữ Cứu quốc tỉnh đại diện Hội nghiên cứu Mác-xít(2); Ông Cao Triều Phát, đại diện Cao Đài Minh Chơn Đạo Hậu Giang; ông Nguyễn Văn Đính, đại diện trí thức do Mặt trận Việt Minh giới thiệu, đều đắc cử Đại biểu Quốc Hội đầu tiên của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, giai cấp nông dân được bầu Quốc Hội của mình; cuộc Tổng tuyển cử lần này có ý nghĩa rất to lớn đối với giai cấp nông dân, đây thật sự là cuộc đấu tranh quyết liệt của nhân dân ta, trong đó nông dân là lực lượng hùng hậu, chống các thế lực xâm lược và phản động. Dù trong hoàn cảnh kháng chiến như “Nước sôi lửa bỏng” nhưng “Mỗi lá phiếu là một viên đạn bắn vào quân thù”; nhiều nơi trong tỉnh có đến 90% nông dân đi bầu cử. Thắng lợi của cuộc bầu cử Quốc Hội đã giáng một đòn mạnh mẽ vào âm mưu chia rẽ, lật đổ của bọn đế quốc tay sai, tạo cơ sở pháp lý cho cuộc đấu tranh chính trị, quân sự, ngoại giao với kẻ thù, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của bạn bè quốc tế(1).
Tiếp theo ta thành lập Ủy ban Kháng chiến các cấp, tiếp tục lãnh đạo kháng chiến cứu nước. Trước mắt tập trung phát triển thêm lực lượng vũ trang, mua sắm và sản xuất vũ khí; động viên toàn dân tham gia kháng chiến, tham gia phá hoại cầu đường, hàn cản, ngăn sông chống địch và chuẩn bị xây dựng vùng căn cứ U Minh.
Các địa phương thành lập Ban Phá hoại, thực hiện khẩu hiệu “Tiêu thổ kháng chiến – vườn không nhà trống”. Đầu năm 1946, Bộ Chỉ huy Quân khu 9 quyết định tổ chức 3 phân khu (3 Mặt trận): Mặt trận Ngan Dừa - Phước Long, Mặt trận An Biên -Cái Tàu và Mặt trận Tân Hưng - Cà Mau. Khi quân Pháp ồ ạt đánh chiếm các tỉnh Miền Tây nhiều cơ quan lãnh đạo và đồng bào cán bộ, chiến sĩ rút về U Minh dọc theo kinh xáng Phụng Hiệp, Chắc Băng, Thới Bình, Cán Gáo, Sông Trẹm, Cái Tàu. Khi Mặt trận Cần Thơ bị phá vỡ, đoàn người tản cư ngày càng đông; trên kinh Quản Lộ - Phụng Hiệp ta tổ chức 3 trạm tiếp tế với qui mô lớn tại chợ Phước Long, trường học xã Phong Thạnh và ngã ba Đầu Sấu, mỗi trạm cách nhau khoảng 15 cây số. Bà con nông dân với tinh thần “Lá lành đùm lá rách” đã sẵn sàng nhường cơm xẻ áo không quản ngày đêm, mưa gió. Khi Mặt trận Phước Long bị vỡ, ta tổ chức tiếp tế liên tục kể cả cho nhân dân và bộ đội, để các đơn vị kịp thời chuyển về Mặt trận Tân Hưng - Cà Mau.
Thực hiện “Vườn không nhà trống”, ta phá hoại nhà cửa, kho tàng không cho quân Pháp làm căn cứ. Đồng chí Nguyễn Văn Uông được phân công trực tiếp chỉ đạo phong trào này. Bà con nông dân dùng dá, cuốc, xuổng, búa phá đường, phá cầu, đốn cây, hạ cột dây thép; bà con tự phá nhiều nhà cửa, phố xá. Ngay đêm 29 tháng 01 năm 1946, khi quân Pháp đánh chiếm thị xã Bạc Liêu, đồng chí Tào Văn Tỵ, Nguyễn Khắc Cung chỉ huy lực lượng dân công phá cầu Dần Xây (Cầu Sập) trên quốc lộ 4 (Cà Mau - Bạc Liêu); các xã ven lộ đều được bà con nông dân khẩn trương tổ chức phá hoại làm gián đoạn giao thông của địch. Đồng chí Nguyễn Văn Uông vừa huy động lực lượng phá lộ, vừa huy động bà con nông dân lấy mấy chục chiếc ghe chài đổ đầy đất rồi nhận chìm làm cản, chắn ngang kinh xáng Bạc Liêu và cho làm một số bè chất đầy rơm khô thả trên sông để đốt tàu giặc.
Xã Tân Thành là nơi có phong trào phá lộ rất sôi nổi. Đồng chí Tô Phương Hà và Phan Đức Chánh, phụ trách quân sự xã Tân Thành và An Xuyên, đã huy động hàng nghìn nông dân túc trực hàng ngày, phá hàng nghìn khối đất lộ xe và làm cản chống địch; các Mẹ, các Chị lo tiếp tế cơm nước, gói bánh tét, bánh dừa và thuốc men phục vụ lực lượng phá hoại. Ở Tân Đức lực lượng ta phá nhà Hội đồng Đài, Giáo Nhiêu; ở Tân Thuộc phá nhà Bang Son, Sư Phước, Chín Dư, Cả Thiệt; ở Thới Bình phá nhà Cai Tổng Hòa, Huyện Sử, Ban Biện Trị, phá lẫm lúa Tài Phến, Cả Đài, Tám Tổng, Hãng Tây D.A.O. Nói chung tất cả nhà cửa kiên cố trong tỉnh đều phá hết, quyết không để giặc Pháp ẩn náu.
Ngày 02 tháng 2 năm 1946, (nhằm ngày mùng một Tết Nguyên Đán năm Ất Dậu), giặc Pháp đánh chiếm Cà Mau. Chúng xây dựng các đồn bót như: Lò Heo, Cầu số 1, kinh xáng Phụng Hiệp, Nhà Thờ, Cầu Phán Tề, Tắc Vân, Cái Ngang, kinh Mười Sáu. Khi thị trấn cuối trời Tổ quốc rơi vào tay quân thù, một số cơ quan và cán bộ có bị rối loạn, hoảng hốt, di tản hấp tấp nhưng phần lớn đều bám trụ chiến đấu kiên cường. Lực lượng ta rút vào đình Tân Hưng thành lập Mặt trận do Mai Đăng Khoa, Nghê Thiện Úy, Huỳnh Văn Thái và Đội Chánh chỉ huy; Chín Út và Hai Niên, xã Tân Hưng lo vận động tiếp tế. Lực lượng du kích các xã cùng tham gia phối hợp như: Phong Lạc, Khánh Bình, Tân Hưng, Thạnh Phú, Tân Hưng Đông, Tân Hưng Tây, lực lượng Cộng hoà vệ binh của khu của tỉnh cũng về đây phối hợp chiến đấu; Mặt trận Tân Hưng trãi dài từ Nhà Thầy Cai Di xã Phong Lạc qua Rạch Rập – Tân Hưng đến sông Gành Hào – Thạnh Phú. Sau nhiều lần đưa quân tiến công, quân Pháp đều bị lực lượng ta đẩy lùi. Vũ khí của ta phần lớn là cung tên, phi tiêu, khí đá đốt ống tre, lựu đạn và một số khẩu súng mút cơ tông; mặc dù vậy, suốt mấy tháng cầm cự, thực dân Pháp không tiêu diệt được lực lượng ta.
Phía Bắc Cà Mau, Đội Công an xung phong xã An Xuyên do Phạm Văn Trắng và Trần Văn Soi chỉ huy hoạt động rất tích cực. Đêm ngày 07 tháng 02 năm 1946, đội đột nhập vào thị trấn Cà Mau bắt một tên địa chủ phản động giải về trên xử lý; đêm ngày 10 tháng 02 năm 1946, đội tổ chức hoá trang hợp pháp đến đặt mìn tại tua gác cầu quay, diệt 5 tên địch trong đó có tên Đội Nhiểu gian ác. Đội Công an xung phong xã An Xuyên còn kết hợp với Đội phá hoại do đồng chí Hai Lác làm Đội trưởng, đột nhập vào Cà Mau lấy bè gỗ xúc của địch và bắt lại số trâu của bà con nông dân do địch ruồng bắt trước đó.
Ngày 14 tháng 02 năm 1946, địch dùng tàu sắt chở lính Lê Dương càn vào Ô Rô, đóng quân tại Đình Vàm Ô Rô, bị lực lượng du kích xã An Xuyên phục kích đánh nhiều trận. Bà con nông dân đều thực hiện nhà không vườn trống và tản cư triệt để, chỉ còn bốn gia đình người Hoa, một gia đình phú nông và vài cụ già ở lại giữ nhà. Quân Pháp, có cả lính Châu Phi rất dã man, tàn ác, chúng hãm hiếp số phụ nữ người Hoa, bắn chết hai cụ già và một thanh niên rồi quăng xác vào lửa và ném xuống sông; chúng đốt trên 80 ngôi nhà, trong đó có nhiều lúa gạo và tài sản của bà con ta. Hành động man rợ của chúng gây bao tang tóc, đau thương, nhưng càng làm cho cán bộ, chiến sĩ ta căm thù sôi sục. Ngày 16 tháng 2 năm 1946, khi chúng rút quân về Cà Mau, đồng chí Phạm Văn Trắng và Nguyễn Văn Thái (Bí thư xã) phục kích trong bụi rậm, gần mé Kinh Xáng dùng lựu đạn ném vào tàu sắt của địch, làm bị thương 2 tên và tàu bị chết máy, bọn chúng phải xúm nhau kè về Cà Mau.
Trong khi lực lượng bộ đội và du kích cầm chân địch tại Mặt trận Tân Hưng, các địa phương tập trung vận động nông dân tiếp tế lương thực, thực phẩm cho phía trước, vừa lập xưởng sản xuất vũ khí cung cấp cho lực lượng vũ trang; các xã Khánh Bình, Phong Lạc, Tân Hưng Đông, Tân Hưng Tây, Khánh An, Thới Bình, các mẹ, các chị đã vận động rất nhiều bánh, trái, gà vịt, dừa, chuối chở đến Mặt trận Tân Hưng. Trước tinh thần quyết tâm chống địch của bà con nông dân càng làm cho cán bộ, chiến sĩ ta hăng hái, yên tâm chiến đấu. Đồng chí Trần Văn Nhung giao đơn vị du kích Tân Hưng Tây cho Trần Văn Ẩm quản lý rồi về Cái Đôi Nhỏ, xã Tân Hưng Tây, cùng Võ Thiết, Ba Phuông, Thợ Thôi (thợ rèn) lập xưởng sản xuất vũ khí.
Xưởng sản xuất được 24 súng độc lập và chế tạo được 2 khẩu đại bác 37 ly và 45 ly, để trang bị cho lực lượng du kích chuẩn bị chiến đấu. Các tổ chức Nông dân, Phụ nữ Tân Hưng, Tân Hưng Đông tiếp tục lo việc tiếp tế cứu thương. Đội cứu thương của chị Sáu Biện lúc đầu ở Cái Rắn, nhưng khi tình hình càng căng thẳng, số lượng thương binh càng đông, phải rút về đóng nhà anh Xích ở Rau Dừa, anh em thương binh ở nhà đồng bào; cán bộ cứu thương của ta vận động đồng bào giúp đỡ chiến thương. Bộ phận Quân y Viện do bác sĩ Nguyễn Tú Vinh phụ trách, khi số thương binh ngày một tăng, phải tổ chức chuyển qua lẫm Huyện Kệ (đầu kinh vàm xáng Mương Điều), sau đó đưa vào Cái Cấm ở lẫm Biện Tú; bà con nông dân sẵn sàng nhường cơm xẻ áo, vừa lo nuôi nấng thương binh, vừa lo tiếp tế bộ đội, vừa giúp đỡ, đùm bọc đồng bào các tỉnh đổ về tránh giặc càng ngày càng đông.
Tại thị trấn Cà Mau, Ta còn tổ chức lực lượng hợp pháp theo dõi tình hình hoạt động của địch. Sau khi bị thua nhiều trận, thực dân Pháp quyết tập trung lực lượng đánh vào Tân Hưng. Hai chị Nghê Ngọc Báu và Bảy Liệu lập tức báo tin cho ta, lực lượng ta kịp thời phục kích tiêu diệt hàng chục tên, buộc chúng phải rút chạy.
Trước sức đề kháng mạnh mẽ của Quân dân Cà Mau nói riêng, Quân dân Nam bộ nói chung đã gây nhiều khó khăn, tổn thất cho quân xâm lược Pháp. Để động viên cổ vũ và ghi nhận tinh thần anh dũng chiến đấu của đồng bào Nam Bộ, tháng 2 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt toàn Đảng, tặng đồng bào Nam Bộ danh hiệu “THÀNH ĐỒNG TỔ QUỐC”. Được sự khích lệ to lớn của Đảng và Chính phủ, Quân dân Cà Mau tập trung chiến đấu, giữ vững trận địa không cho quân Pháp tiếp tục đánh chiếm các nơi còn lại của tỉnh Cà Mau.
Nông dân Cao Đài Minh Chơn Đạo bị thảm sát dã man ở Giồng Bốm, đã nung nấu lòng căm thù của đồng bào ta đối với quân xâm lược bạo tàn; mọi người đều thấy rõ bản chất đê hèn của bọn xâm lược, cùng nhau đoàn kết chiến đấu quyết liệt hơn nữa, thề không khuất phục bạo lực hung tàn của chúng.
Ngày 6 tháng 3 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký hiệp ước sơ bộ với Pháp: “Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà là một nước tự do, có Chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng. Việc thống nhất nước Việt Nam sẽ được qui định bằng trưng cầu dân ý. Phía Việt Nam đồng ý cho 15.000 quân Pháp vào miền Bắc thay cho quân Tưởng và mỗi năm rút đi 1/5, trong 5 năm sẽ rút khỏi Việt Nam”.
Ngày 02 tháng 5 năm 1946, quân Pháp tập trung toàn bộ lực lượng, đại tiến công vào Mặt trận Tân Hưng. Mặt trận Tân Hưng là Mặt trận cuối cùng của quân dân ta chống trả quân xâm lược, trong những ngày đầu kháng chiến ở Tây Nam Bộ. Chỉ với vũ khí thô sơ, quân dân ta quyết bám trụ chiến đấu hơn 3 tháng trời, không cho địch mở rộng phạm vi đánh phá. Đây là những kinh nghiệm chiến đấu vô cùng quí báu, là những bài học rút ra từ thực tiễn để chuẩn bị cho những ngày chiến đấu tiếp theo.
Sau khi Mặt trận Tân Hưng tan rã. Bộ tư lệnh Khu 9 rút về xã Tân Thuận, đơn vị bộ đội rút về Khánh Lâm, Tân Bằng, Cán Gáo. Liên Tỉnh ủy Hậu Giang quyết định xây dựng căn cứ kháng chiến ở U Minh và chuyển hướng hoạt động phù hợp với tình hình thực tế mới. Khu ủy chủ trương cho bà con nông dân trở lại bám đất, tạo thế chiến tranh nhân dân rộng khắp ngay cả trong vùng địch hậu, tạo thế chiến cài răng lược, xen lẫn giữa ta và địch. Nhiều trận đánh ra nhỏ, lẻ liên tục diễn ra; với nhiều lối đánh đầy sáng tạo của nông dân, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, thu vũ khí, trang bị cho lực lượng ta.
Sau khi tái chiếm Cà Mau, thực dân Pháp tung quân đóng chiếm nhiều nơi trong tỉnh như: Đầm Dơi, Cái Keo (Cây Dương), Năm Căn, Nhưng Miên, Thị Kẹo, Thới Bình, Tân Bằng, Huyện Sử, Chợ Hội… chúng tung quân càn quét bắt bớ cướp bóc, hãm hiếp gây hoang mang đối với bà con nông dân. Bọn tề ngụy và bọn gián điệp ôm chân ngoại bang, nhân dịp này ngóc đầu dậy hoạt động, chúng chỉ đường cho quân Pháp đánh phá cơ sở ta và thiết lập hệ thống chính quyền từ tỉnh đến xã để kìm kẹp nhân dân.
Trước tình hình đó, nhiều địa phương đã tự động nêu khẩu hiệu “Diệt ác trừ gian để bảo vệ cách mạng” và thành lập các đội tuyên truyền xung phong, vừa kêu gọi toàn dân đoàn kết kháng chiến, vừa trừ khử những tên việt gian bán nước; mặt khác gấp rút xây dựng lại chính quyền, mặt trận và các đoàn thể. Trong đó tập trung vào các thành phần bần, cố nông, khẳng định nông dân là chủ lực quân cách mạng để tuyển chọn những người có lập trường, hăng hái chiến đấu kết nạp vào tổ chức, hoạt động chống địch.
Ngày 11 tháng 4 năm 1946, trong bức thư gửi điền chủ nông gia, Hồ Chủ Tịch khẳng định vai trò của nông dân và nông nghiệp“Việt Nam là một nước sống về nông nghiệp. Nền kinh tế của ta lấy canh nông làm gốc. Trong công cuộc xây dựng nước nhà, chính phủ trông mong vào nông dân, trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn. Nông dân ta giàu thì nước ta giàu. Nông dân ta thịnh thì nước ta thịnh”. Hưởng ứng lời Hiệu triệu của Bác Hồ, bà con nông dân Cà Mau không những đẩy mạnh tăng gia sản xuất mà còn tích cực tham gia xây dựng lực lượng vũ trang, tự chế tạo vũ khí chiến đấu chống địch.
Do vũ khí khan hiếm, dù quyết tâm nhưng tiêu diệt địch rất khó; phải bằng mọi cách tìm cho được vũ khí đánh địch. Các đồng chí: Nguyễn Văn Sa, tỉnh Đội trưởng; Nguyễn Văn Ngoan, Tài chính tỉnh và cùng một số anh em khác đến Tân Ân, bố trí đồng chí Bông Văn Dĩa cùng Châu Quang Nhiên, Lê Ngọc Tiểu, Huỳnh Văn Chuyên, Nguyễn Văn Lọng mang hơn 5 tấn tôm khô sang Thái Lan bán, lấy tiền mua vũ khí. Tháng 7 năm 1946, các anh đã mua vũ khí từ Thái Lan mang về đến Ông Trang. Số vũ khí này trang bị cho các đơn vị Cửu Long, trong đó phần lớn lực lượng huy động từ nông dân xã Tân Ân, Viên An. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông dân Cà Mau đã sẵn sàng hy sinh người, của cho kháng chiến, đặc biệt là cho tiến công, bao vây tiêu diệt địch.
Tháng 8 năm 1946, lực lượng du kích bao vây đồn Cái Rắn; bằng sáng tạo của bà con nông dân, lực lượng ta dùng phân gà, phân heo, phân trâu, phân bò, ớt khô un khói phía trên gió làm cho bọn địch trong đồn không sao chịu nổi; mặt khác ta dùng xác trâu, chó chết để trên bè thả trôi gần đồn địch; lính đi ra ngoài thì bị bắn tỉa, ở trong đồn bị xông khói, bọn chúng lại thiếu thức ăn, nước uống, cuối cùng bọn địch tại đồn Cái Rắn phải tháo chạy.
Ngày 29 tháng 8 năm 1946, đơn vị của đồng chí Phạm Hồng Thám phối hợp với Chi bộ Thới Bình dùng nội tuyến và “mỹ nhân kế” tiêu diệt đồn Tân Bằng. Ta đưa anh Mười Muối vào làm thông ngôn cho chúng và tìm một phụ nữ đưa vào để khống chế tên đồn trưởng. Ông Trịnh Văn Xuyến là một nông dân chất phác, thật thà, hết lòng với cách mạng nhưng khi nghe chị Nguyễn Thị Bời, cán bộ phụ nữ xã bàn đến việc đưa cô Trịnh Thị Hai con gái của ông, lãnh lấy nhiệm vụ đặc biệt này thật không sao tưởng tượng nỗi; còn Trịnh Thị Hai chỉ biết ôm mặt khóc. Mẹ cô bà Nguyễn Thị Ngượt, nghỉ thương con nhỏ dại, thiệt thà, bị giặc dày bừa, rồi giữa súng đạn, sống chết ra sao? “Mà nếu nó không chết thì cũng sẽ ở giá tới già, chớ có đứa con trai nào đi nói nó?” Nhưng ông Xuyến lại nói“Thằng tây còn đó, cái mạng mình cũng không còn, nói gì tới chuyện có chồng, có con? dù phải chết một mình mà diệt được cả đồn giặc, cứu được xóm làng thì con hãy tình nguyện làm theo lời của các anh, các chị”.
Trịnh Thị Hai vào đồn Tân Bằng 15 ngày trận đánh nổ ra. Đó là lúc chiến sĩ ta dùng hai xuồng chở đầy câu, trúm, ghé đồn vừa cho, vừa mời chúng mua lươn, cá; khi bọn địch xúm nhau chạy xuống bến, bất ngờ lực lượng ta thi nhau nhã đạn vào chúng. Nghe súng nổ, tên trưởng đồn vừa chụp FM, bị Trịnh Thị Hai lao tới đâm dao găm vào người hắn. Lực lượng ta tràn lên diệt đồn trưởng và hầu hết bọn địch, ta bắt sống 5 tên, trận này đồng chí Bạch hy sinh(1). Không bao lâu sau đó các đồn Huyện Sử, Chợ Hội cũng tháo chạy trước sức bao vây, uy hiếp của quân dân ta. Tháng 10 năm 1946, ta tiếp tục dùng mỹ nhân kế lấy đồn Rạch Rập. Tháng 11 năm 1946, ta bao vây bức rút đồn Câu Tàng, xã Tân Thuận; và Tổ binh vận do chị Hữu Thị Chinh phụ trách đã động viên tên Thạch Chựng, trưởng đồn Lò Heo cùng binh sĩ trong đồn trở về với cách mạng, mang theo 15 súng và nhiều đạn dược.
Tại Tân Ân, ông Huỳnh Ngọc Báu cùng con là Huỳnh Ngọc Bích vớt được thủy lôi của địch ở biển Đông trôi dạt vào bờ, đem giao cho Huỳnh Ngọc Điệp để cải tiến thành vũ khí đánh tàu địch. Huỳnh Ngọc Điệp cùng với các anh Tô Bình Đẳng, Võ Văn Lược, Nguyễn Văn Thuận, Tạ Hữu Cường, Tề Xứ, Ba Hồ, Tảo, Vốn, Võ, Cứng và sáu anh em khác biết làm thợ, thành lập đơn vị thủy lôi tại khu vực Sáu Lò Than, xã Tân Ân do Huỳnh Ngọc Điệp phụ trách. Anh Ba Hồ là người phụ trách xưởng sản xuất vũ khí ở U Minh ngày Nam kỳ khởi nghĩa đã nghiên cứu trái thủy lôi, do thuốc nổ chỉ còn khoảng 1/3, các anh dùng tro trấu trộn thêm vào. Kíp nổ cũng do đồng bào lượm được từ bãi biển Tân Ân; anh Huỳnh Ngọc Điệp cải tiến kíp nổ thành công,
Ngày 01 tháng 11 năm 1946, ông Tào Tăn Tỵ, Ủy viên quân sự tỉnh, chỉ đạo tổ chức đánh thử nghiệm tại Giá Ngự, ông Huỳnh Ngọc Điệp, ông Vốn, ông Võ phối hợp với quốc vệ đội trực tiếp đánh địch. Thủy lôi nổ nhưng sức công phá không lớn (do trộn tro trấu), tàu địch vỡ một mảng trước mũi, văng hai tên pháp xuống sông, đồng bào rất phấn khởi. Cũng trong thời gian này Ông Báu tiếp tục vớt cho thêm 8 trái thủy lôi khác. Ngày 7 tháng 11 năm 1946, ta dùng trái thủy lôi thứ hai đánh chìm một tàu sắt địch tại Mây Dóc (Vàm Đình – Cái Nước) tiêu diệt toàn bộ lính Lê Dương trên tàu thu trên 100 súng và rất nhiều đạn dược, quân trang, quân dụng.
Chiến thắng Mây Dóc, khẳng định vai trò của những “kỹ sư nông dân Cà Mau”. Với lòng căm thù quân xâm lược, những người nông dân, chỉ với trình độ học vấn kém cõi đã cải tiến thành công loại vũ khí, có thể đương đầu với hải quân Pháp vừa hiện đại, vừa kiêu căng, đang làm mưa, làm gió trên xứ sở này. Chiến thắng Mây Dóc mở màn cho những chiến thắng vang dội hơn nữa khi thực dân Pháp mở rộng chiến tranh ra toàn cõi nước ta.
II. NÔNG DÂN CÀ MAU CHIẾN ĐẤU CHỐNG QUÂN XÂM LƯỢC, XÂY DỰNG VÙNG NÔNG THÔN GIẢI PHÓNG
Bất chấp nội dung Hiệp ước sơ bộ (ngày 06 tháng 3) và tạm ước (ngày 14 tháng 9 năm 1946), thực dân Pháp ra sức càn quét lấn chiếm ra miền Bắc nước ta; đầu tháng 12 năm 1946, Pháp đưa quân đánh chiếm Lạng Sơn, Hải Phòng và chuẩn bị kế hoạch đánh úp Thủ đô Hà Nội.
Ngày 18 tháng 12 năm 1946, Hội nghị Thường vụ Trung ương Đảng phát động cuộc kháng chiến trên qui mô toàn quốc. Ngày 19 tháng 12 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn Quốc kháng chiến“Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. “Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, ai không có súng, gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc, ai cũng ra sức đánh thực dân Pháp cứu nước”. Đáp lời kêu gọi của Bác, bà con nông dân càng hăng hái tham gia kháng chiến với niềm tin mãnh liệt vào thắng lợi cuối cùng.
Trước tình hình trên, Tỉnh ủy triệu tập hội nghị, phát động toàn dân tham gia kháng chiến, xây dựng lực lượng vũ trang, chuẩn bị lương thực, thực phẩm, Lạc quyên, sản xuất vũ khí, hàn cản, phá đường, chuẩn bị xây dựng vùng căn cứ U Minh, trường kỳ kháng chiến.
Hưởng ứng “Tuần lễ vàng”, do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề xướng, bà con nông dân Cà Mau tham gia đóng góp rất sôi nổi. Chị Hai The (tức Nguyễn Thị Minh) là người trực tiếp đọc diễn văn kêu gọi đồng bào Cà Mau, Thới Bình và các nơi hưởng ứng “Tuần lễ vàng”. Ông Tô Văn Giỏi, xã Tân Thành đã góp 2 chỉ vàng là vật tư trang lưu niệm của mình; ông Lưu Ngọc Cứ, xã Tân Thuận hiến một lượng vàng, một bộ lư, một bộ Chân đèn và một ô thau; ông Trần Văn Lãnh ở Khánh Lâm hiến 100 giạ lúa; bà Huỳnh Thị Thảo ở ấp 9, Xã Khánh An hiến một đôi bông tai, một kiểng vàng, 4 mâm thau và 300 giạ lúa; các ông: Bảy Minh, Tám Hên, Hai Lến, Chín Hưng, Tám Chao, Năm Thanh… xã Khánh Bình Đông hiến nhiều vàng bạc, đồng thau cho kháng chiến. Huyện Cái Nước là nơi có phong trào khá sôi nổi, tại Cái Keo hơn 100 người lột bông tai, khâu vàng và tiền bạc đóng góp; bà con Cái Keo đã đóng góp hàng chục lượng vàng và hàng triệu đồng; chị Phan Thị Bán ở Tân Hưng Đông chỉ có đôi bông tai là vật kỷ niệm cũng sẵn sàng đóng góp; ông Hồ Văn Linh ở Hưng Mỹ hiến một bộ lư, hai chân đèn và hai mâm thau, một nồi đồng; các ông Nguyễn Văn Tỵ, Hà Văn Tiễn đều đóng góp mỗi người một bộ lư và hai chân đèn, 150 mâm thau, 32 nồi đồng; gia đình Ba Thuẩn, Hai Phương, Ba Đảnh, Tư Mới, Ba Kỉnh, Tám Chí xã Tân Hưng Tây đóng góp nhiều vàng, đồng, thau.
Ở Thới Bình, ông Trịnh Bá Sử hiến nhà máy chà lúa; ông Lê Văn Sự hiến 300 giạ lúa; bà Cao Xuân Miên, thị trấn Cà Mau ủng hộ 5 lượng vàng; một em bé gái 17 tuổi ở Cà Mau ủng hộ một cây kiểng vàng; bà Triệu Thị Xuân ở Gành Hào, hiến 3 lượng vàng và tiền bạc, đồng nhôm; một chị bán khóm ở Cà Mau hiến một chiếc nhẫn 5 chỉ vàng; ông Ngô Vĩnh Vi cùng nhiều bà con ở Tân Ân, Ngọc Hiển hiến nhiều vàng, bạc, đồng, thau cho kháng chiến.
Xã Tân Duyệt, các anh Trần Vũ Lộ, Tạ An Khương tổ chức hát tuồng, ca cải lương, lưu Diễn nhiều nơi, kêu gọi đồng bào đóng góp tiền, vàng cho kháng chiến. Bà con nông dân Tân Duyệt hiến 10 lượng vàng. Kết quả “Tuần lễ vàng” ở Bạc Liêu bước đầu hàng chục ký vàng, giao cho anh Tiến chuyển đến các anh Dương Quang Đông, Phan Thái Hoà (Ba Nhâm),Võ Minh Cao sang Thái Lan tổ chức mua vũ khí đem về Cà Mau trang bị cho đơn vị Cửu Long 1, Cửu Long 2 và đơn vị Bạch Đằng.
Khi thực dân Pháp đánh chiếm các tỉnh Nam bộ, các cơ quan Khu 9 và Xứ ủy tạm lui về rừng U Minh và rừng đước củng cố lực lượng. Các đơn vị Cửu Long, Trung đoàn 125, Trung đoàn 307, Tiểu đoàn Tây Đô 402, Phân khoa quân giới Duyên Hải về đóng dọc các kinh xáng Chắc Băng, Cái Sắn, Thới Bình và Sông Trẹm, Cái Tàu, Cán Gáo. Được sự hướng dẫn của Đảng, Bà con nông dân sẵn sàng nhường cơm xẻ áo, tập trung vận động tiếp tế lương thực, thực phẩm và những thứ cần thiết khác cho cơ quan, đơn vị bộ đội. Ông Trịnh Hảo ở phường 9, Cà Mau làm tiếp liệu của cụ Vũ Đức đã hiến 700 giạ lúa; Má Phan Thị Kháng, xã An Xuyên mỗi năm làm mấy trăm giạ lúa đều nuôi bộ đội hết, mặc cho gia đình thiếu thốn vất vả; ông Trần Châu Hoàng ở Hàng Gòn - Khánh Lâm nuôi công binh xưởng Trà Vinh suốt hai năm; xưởng 13 ở nhà ông Tư Quảng, ấp Đường Cuốc xã Khánh Lâm suốt 6 năm liền, được bà con Khánh Lâm đùm bọc, nuôi dưỡng chu đáo; bộ đội lưu động và xưởng 9 ở Hàng Gòn, xưởng 10 ở Rạch Hàng và xưởng của anh Lê Văn Hậu (Khu 9) ở Rạch Xã Thìn, thuộc các xã Khánh Lâm, Nguyễn Phích, Khánh An (Khu vực U Minh) đều được bà con nông dân ủng hộ đầy đủ cả vật chất lẫn tinh thần.
Nhiều cơ quan Nam bộ đóng xã Tân Hưng Tây như: Cơ quan Xử ủy, Sở công an, sở giáo dục Nam bộ, kho bạc, nhà in bạc và một số xưởng sản xuất vũ khí của Nam bộ và tỉnh Cà Mau cũng đóng xã Tân Hưng Tây, nhiều bà con xã Tân Hưng Tây vừa tham gia vận động lạc quyên cung cấp lương thực, thực phẩm cho cơ quan đơn vị, vừa tham gia vào ban tiếp tế, tiếp liệu cho công binh xưởng như: Mười Chi, Hai Đài, Thân Gộc, Tư Cung, Hào Tần. Nhiều phụ nữ làm nhiệm vụ đỡ đầu cho công binh xưởng như: Bà Hai Các, Bà Hai Cậy, Bà Tám Mít, Bà Nguyễn Thị Sen, Vợ ông Đỗ Văn Võ. Đời sống anh em rất kham khổ, cơm rau dưa muối, nhưng phải lao động nặng nhọc, các mẹ, các chị liên tục vận động bánh trái, rau cải, cá mắm, heo gà vịt để tiếp tế cho anh em chiến sĩ. Các mẹ Năm Bạch, Phù Kim Liên xã Tân Lộc, Thới Bình đã nuôi chứa cán bộ, bộ đội suốt nhiều năm trong kháng chiến. Trường Quân 9 (Nam bộ) đóng tại vườn nhà ông Lý Văn Sang, Lý Văn Xăng ở Khai Long, Tân Ân được bà con Rạch Gốc, Cái Xép, Rạch Tàu và ông Trang tận tình giúp đỡ.
Gia đình ông Lưu Ngọc Cứ ở Tân Thuận, Đầm Dơi nuôi đồng chí Lê Đức Thọ. Gia đình ông Tám Muôn nuôi đồng chí Văn Viên, Phan Trọng Tuệ cùng đại đội bảo vệ cơ quan Xứ ủy suốt thời gian dài. Gia đình bà Nguyễn Thị Vẽ, ấp Cái Cám, xã Tân Hưng Tây nuôi dưỡng và bảo vệ đồng chí Lê Duẩn. Các gia đình Ngô Thị Cúc, Phạm Văn Đấu, Lê Thị Thường và các Má Ba Hỗ, Má Bảy ở Tân Hưng Đông, Cái Nước là những gia đình nuôi chứa cán bộ, bộ đội trong những năm tháng kháng chiến vô cùng gian khổ.
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, ta liên tiếp phát động bà con nông dân trong tỉnh, sẵn sàng nuôi chứa cán bộ, bộ đội, vì vậy nơi nào cơ quan, đơn vị đến nhà, bà con nông dân đều sẵn sàng nuôi, chứa không kể số người ở nhiều hay ít hoặc thời gian lâu hay mau. Đồng bào càng nghĩ càng thương bộ đội, càng ra sức tăng gia sản xuất để bộ đội được ăn no, đánh mạnh. Hội Phụ nữ cứu quốc phát động “Hũ gạo nuôi quân” (cứ mỗi lần nấu cơm, bà con bỏ vào hủ một nắm gạo), sau đó gom lại gởi ra chiến trường; việc góp gió làm bão này có kết quả rất lớn. Hội Phụ lão và Thanh niên cứu quốc thực hiện phát động “Con gà, buội chuối kháng chiến” nuôi một con gà, trồng một buội chuối tuy giá trị không lớn nhưng biết cách góp gió làm bão của nông dân, các đơn vị bộ đội được tiếp tế một khối lượng thực phẩm đáng kể. Mẹ Lê Thị Sảnh cùng Hội mẹ chiến sĩ xã Trí Phải hàng ngày vận động tiếp tế cho anh em thương binh Quân y viện tại Huyện Sử; dù chỉ con gà, quầy chuối, buồng dừa, bó rau, rỗ cá nhưng thắm đượm tình quân dân cá nước.
Sau khi quân Pháp đóng đồn bót một số nơi, thường xuyên ruồng bố đánh phá cướp giựt, chúng thường dùng tàu sắt làm phương tiện hành quân và chi viện, gây cho ta nhiều khó khăn. Tỉnh ủy chủ trương hàn cản, xây dựng chướng ngại vật ví địch. Nông dân ấp Tân Hiệp xã An Xuyên đắp một con đê dài 2 cây số (mé kinh xáng Phụng Hiệp), đê cao 1 mét, ngang 2 mét, trên đê trồng cây tu hú nhiều gai nhọn; từng đoạn có chừa đường cho bà con dẫn trâu đi qua cày trục làm mùa và đây cũng là nơi để quân ta thường xuyên phục kích đánh địch.
Tại điền Năm Hồng, ấp Tân Thuận xã An Xuyên, nông dân hàn cản ngang kinh xáng Phụng Hiệp dài 50 mét, ngang 36 mét. Hàng nghìn lực lượng nông dân An Xuyên, Tân Thành, Tân Lộc xuống Năm Căn chở đước về và đốn cau dừa của bà con để hàn cản. Lực lượng phụ nữ, người già đốn lá dừa nước chầm cà vun quăng xuống lấp cản. Sau gần một tháng với trên 20.000 ngày công, cản Phụng Hiệp hoàn thành vững chắc.
Cũng thời gian này, các địa phương khác hoàn thành các cản với qui mô lớn như: Đội Cường, Tắc Thủ, Sông Ông Đốc, Thợ Mai, Thị Kẹo, Hộ Phòng, Tân Đức, Nhị Nguyệt, Mương Điều. Bà con nông dân Ngọc Hiển đốn trên 50.000 cây đước dài cả chục mét, chở đến các nơi để hàn cản. Những nơi ở xa đồn bót, hàng ngày phụ nữ, trẻ em, người già đều chầm cà vun có sức chứa vài chục ký lô, phơi khô ép lại và cột thành bó đưa ra phía trước, rất nhiều nơi đốn dừa, cau, tre chở đi hàn cản.
Bà con xã Viên An đốn hơn 10.000 cây đước hàn các cản Ông Trang, Cả Ngay, Bảy Háp. Cản kinh xáng Cái ngay xây dựng rất khó khăn, kinh sâu nước chảy xiết, ta huy động nông dân ở Rạch Tàu, Ấp Mũi, lực lượng này nhiều người từng cắm đáy sông hoặc đáy hàng khơi nên có kinh nghiệm rất tốt. Cản sông Bảy Háp rất kiên cố, ta dùng dây sắt buộc niệt cả một giàn cây đước vừa to vừa dài, không lấp đất nhưng tàu địch vẫn không qua được.
Cản kinh xáng Đội Cường có chiều dài 100 mét, nhân dân các xã Tân Hưng, xã Tân Hưng Đông, Phú Mỹ với hơn 180.000 lượt ngày công làm suốt 4 tháng. Các mẹ, các chị vận động tiếp tế cơm gạo, bánh nước cho anh em. Cản Tắc Thủ làm hơn 1.000 cây dừa lão và hơn 15.000 cây tràm do nhân dân các xã Khánh Lâm, Nguyễn Phích, Khánh An, Khánh Bình, Phong Lạc tập trung xây dựng.
Tại cửa sông Ông Đốc, ta dùng một ghe chài loại lớn, chở đầy gạch ngói vụn rồi nhận chìm ngay lòng lạch để hàn cản; tiếp theo ta huy động các xã đưa hàng ngàn lực lượng chở đước và cau, dừa đến đây cắm cản. Đồng chí Phan Ngọc Sến, Huyện đội Phó trực tiếp chỉ huy cùng các đồng chí Mười Thiện, Hai Thống, Tư Bình… Sau gần 2 tháng ta đã hoàn thành kiên cố cản Sông Đốc với chiều rộng khoảng 200 mét, chiều dài gần 1.000 mét. Bà con nông dân các xã lân cận đã hình thành những ban tiếp tế với vô số cơm gạo, cá, mắm, dừa, chuối, rau, cải, bồn bồn, dưa môn, rau muống. Từng đại đội có các chị, các mẹ lo cơm nước phục vụ lực lượng hàn xản. Ban chỉ đạo còn tổ chức làm báo tường, văn nghệ, canh gác để phục vụ các lực lượng.
Cùng với việc hàn cản, ta chủ trương phá lộ giao thông, không cho địch hành quân đánh phá hoặc chi viện cho nhau. Đồng chí Nguyễn Văn Uông được Tỉnh ủy điều động làm Trưởng ban phá hoại của Tỉnh Đội, đồng chí đã chỉ huy phá các tuyến lộ Cà Mau - Thới Bình. Các cầu sắt đều bị phá.
Cuối năm 1946, tại ấp Quảng Phú, xã Phú Mỹ, bốn cha con ông Đặng Văn Thôi (1) theo sự chỉ đạo của anh em Trần Hồng Sơn, lấy sắt cầu của Pháp (bắc qua sông Đầm Cùng vô Rau Dừa) làm đại bác để đánh giặc. Nòng súng 45 ly (mua láp tàu của Sáu Quảng, chủ tàu đò Tân Lập), dài 2,5 mét. Cha con ông Thôi làm thợ rèn, lấy sắt cầu quấn tròn như khâu dao, đóng vào ống láp từ 2 đến 3 lớp (hơn 20 khâu). Trần Hồng Sơn đem súng xuống xưởng tiện 18 của Khu 9 hoàn chỉnh và xin thuốc nổ của xưởng làm đạn. Khẩu đại bác này đem bắn thử tại đồn Tân Duyệt (thị trấn Đầm Dơi bây giờ) làm sập một góc đồn.
Trần Hồng Sơn và Tám Tữu, Võ Thiếc còn tự xây dựng một xưởng sản xuất vũ khí tại Cái Đôi Nhỏ (Tân Hưng Tây) để xạc đạn và sửa chữa các loại vũ khí. Từ cuối năm 1946, các xưởng của Nam bộ, Khu, Tỉnh sản xuất được Bazoka, Bazomin, FT, Tromlon, Lăng xà bom, col 12 và nhiều loại đạn.
Đầu năm 1947, cơ quan lãnh đạo từ tỉnh đến cơ sở được củng cố, các tổ chức quần chúng hoạt động mạnh mẽ, nhất là Hội Nông dân, Thanh niên, Phụ nữ. Phong trào thanh niên tòng quân giết giặc và phong trào sản xuất đóng góp nuôi quân, phát triển rầm rộ. Các đơn vị vũ trang mang tên Hồ Chí Minh, Phan Ngọc Hiển, 307, 410 ra đời. Bà con nông dân động viên con em mình lên đường nhập ngũ rất sôi nổi.
Ngày 18 tháng 5 năm 1947, thực dân Pháp đưa tàu sắt La tonnante đến tiếp tế cho bọn địch tại Đầm Dơi, khi về đến Mương Điều lọt vào ổ phục kích của ta. Thủy lôi nổ, tàu chìm, nhiều tên giặc bỏ mạng.
Phải bằng mọi cách lấy cho được vũ khí của địch còn dưới tàu, Ủy ban Khánh chiến hành chính tỉnh chủ trương huy động nhân dân đắp đập chặn hai đầu nơi tàu chìm trên sông Mương Điều rồi tát cạn để lấy súng đạn. Các anh Trần Duy Thiện, Lê Hiển Mạnh, Chung Tấn Trường (Xã đội) Phạm Văn Tàng, Trần Văn Kiên, Vũ Quang Trung (Hội Nông dân Cứu quốc), cùng hàng nghìn lực lượng các xã túc trực tại hiện trường, lực lượng ta xây thang trông cao 8m để canh chừng máy bay và chỉ huy trận địa. Khi đập vừa đắp xong, mỗi ngày trên 500 lực lượng nông dân túc trực, thay phiên nhau, dùng 36 gàu giai, chia thành nhiều “Xòng tát” để tát cạn nước; do sông quá sâu, có nơi phải tát chuyền đến 3 tầng gàu. Sau hơn 01 tuần liên tục cả đêm ngày, lực lượng ta thu hết súng đạn trên tàu và lấy luôn máy tàu đem qua Thái Lan bán, lấy tiền mua vũ khí đem về đánh giặc.
Do hốt hoảng trước thất bại thảm hại của chiến thuật “Công sự nổi”, thực dân Pháp cho tàu sắt co cụm về Cà Mau. Lực lượng ta lại đánh chìm chiếc Laterre tại Ao kho trên sông Gành Hào, làm chết 2 đại đội lính Lê Dương. Bọn chúng bố trí canh gác hàng tháng trời; nhưng lực lượng ta vẫn mò và lấy hết vũ khí đạn dược có cả súng 13,2 ly và vô số đạn, quân trang, quân dụng. Chiến thuật dùng tàu chiến trên sông, ưu thế tuyệt đối của quân viễn chinh Pháp đã bị quân dân Cà Mau đánh bại. Sau trận Ao kho, hải quân Pháp hạn chế tối đa hoạt động bằng tàu sắt trên vùng sông nước Cà Mau. Các đồn bót địch đóng sâu trong vùng nông thôn, rơi vào thế cô lập, buộc chúng phải rút bỏ các đồn bót trên các tuyến Bảy Háp, Gành Hào, Năm Căn, Sông Đốc, Thới Bình, tập trung về phòng thủ thị trấn, thị xã. Vùng giải phóng của ta mở rộng, các cơ quan Nam Bộ có thời gian chuyển lên Đồng Tháp nay trở về Cà Mau xây dựng căn cứ ổn định.
Đánh bại chiến thuật tàu chiến trên sông (tức công sự nổi), biến chúng thành những quan tài thép, chôn vùi bọn thực dân xâm lược. Công trạng trước nhất thuộc về những người nông dân tay lấm, chân bùn; không cam tâm chịu mãi kiếp ngựa trâu, họ quyết vùng lên làm bất cứ việc gì có thể làm được để góp phần giải phóng quê hương; thực tiễn chứng minh họ đã làm được những chiến tích phi thường nhất.
Ngày 22 tháng 02 năm 1947, Xứ ủy Nam Bộ chủ trương giảm tô, giảm tức cho nông dân và xóa nợ của bà con đối với địa chủ. Khi được Ủy Ban kháng chiến Nam bộ ban hành, đồng chí Nguyễn Tấn Đạt (Sáu Già) Thư ký Hội Nông dân tỉnh phổ biến ngay lệnh này cho các cấp Hội trong tỉnh, bà con nông dân vô cùng phấn khởi vì cuộc đời người nông dân, ít có ai không mang nợ truyền kiếp đối với địa chủ.
Đầu năm 1948, Đại hội Đảng bộ tỉnh bầu Ban Chấp hành mới gồm 15 đồng chí do đồng chí Trần Văn Sớm làm Bí thư. Đại hội chủ trương đẩy mạnh công tác vận động nông dân thực hiện dân chủ hóa, xây dựng chính quyền và phát động thi đua ái quốc và thi hành chính sách ruộng đất theo chỉ thị của cấp trên.
Tháng 01 năm 1948, Ban Chấp hành Trung ương Đảng tổ chức hội nghị kiểm điểm tình hình đề ra nhiệm vụ mới; hội nghị nhận định “Để khích lệ nhiệt tình của nông dân tham gia kháng chiến, ủng hộ kháng chiến, phải đặc biệt chú trọng cải thiện đời sống nông dân”. Hội nghị nêu việc thi hành chính sách ruộng đất cho dân cày, đó là thực hiện giảm tô 25%, bỏ những thứ thuế, địa tô phụ, chia lại công điền cho hợp lý, cấp trâu bò, hạt giống cho nông dân, giữ giá nông phẩm; hội nghị đề ra yêu cầu kiện toàn tổ chức nông vận để thực hiện chính sách ruộng đất mới.
Ngày 27 tháng 3 năm 1948, theo sáng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị phát động phong trào “Thi đua ái quốc” nhằm động viên toàn dân, toàn quân thi đua kháng chiến, kiến quốc làm cho “Kháng chiến mau thắng lợi, kiến quốc chóng thành công”.
Tháng 5 năm 1948, Trung ương nêu những biện pháp xử lý ruộng đất, tài sản của thực dân Pháp và Việt gian để nông dân kịp thời có ruộng đất cày cấy, không bỏ hoang. Tháng 10 năm 1948, Trung ương Đảng quyết định mở cuộc điều tra nông thôn trong toàn quốc để đề ra chủ trương, chính sách đối với nông thôn phù hợp tình hình kháng chiến.
Năm 1948, Ty kinh tế tài chính phối hợp cùng Hội Nông dân tổ chức trường dệt lấy tên là “Trường Sao vàng” nhằm mục đích giải quyết nhu cầu về vải mặc cho nhân dân và bộ đội, cán bộ, nghiên cứu kỹ thuật, phát triển nghề dệt vải và đào tạo cán bộ chuyên ngành cung cấp cho các địa phương. Trường đóng tại xã Tân Hưng Đông do anh Năm Cầm làm trưởng ban Quản trị; trên 150 phụ nữ, con em nông dân được đào tạo đều đạt tay nghề khá giỏi, chị em dệt được vải ta, vải mùng, chăm đầm, vải sợi…Ty Canh nông mở “Trại truyền huấn” để đào tạo cán bộ dệt và nghiên cứu kỹ thuật trồng dâu nuôi tằm và kỹ thuật dệt (Hiện này xã Hàm Rồng còn con kênh mang tên Truyền Huấn); do máy bay thường bắn phá trại dời đến các vùng Thanh Tùng, Cái Keo, Cái Nháp, Điền Quốc Gia, Bà Hính với một xí nghiệp gồm 5 - 6 khung dệt.
Ngày 06 tháng 8 năm 1949, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết số 02-NQ/TW về việc thành lập Ban Nông vận Trung ương. Ngày 01 tháng 12 năm 1949, Trung ương Đảng ra chỉ thị khẳng định vai trò, vị trí của các Đoàn thể Cứu quốc, đào tạo cán bộ, chấn chỉnh các tổ chức Nông dân để gây thành một lực lượng, làm trung tâm xây dựng nông thôn, cải cách ruộng đất. Chỉ thị nêu rõ phương hướng kiện toàn tổ chức Hội Nông dân “Ngoài công tác kháng chiến phải nghĩ đến sự giải quyết thiết thực những quyền lợi bản thân các đoàn viên nữa. Tránh lối sinh hoạt khô khan, chính trị suông. Sinh hoạt phải bổ ích và linh hoạt”.
Từ ngày 28 tháng 01 đến ngày 7 tháng 12 năm 1949. Hội nghị cán bộ Nông dân Toàn quốc lần thứ nhất được tập trung tại Việt Bắc. Trên cơ sở đánh giá những thành tích to lớn của giai cấp nông dân và là một trong hai động lực của cách mạng; kể từ khi thành lập Hội Nông dân cứu quốc. Báo cáo của hội nghị nêu rõ những bước trưởng thành và những đóng góp của nông dân trong cuộc kháng chiến. Trong thư gởi hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá cao vai trò, vị trí và tiềm lực lớn lao của giai cấp nông dân. Người căn dặn cán bộ “Tổ chức Nông dân thật chặt chẽ – Đoàn kết nông dân thật khăng khít - Huấn luyện nông dân thật giác ngộ – Lãnh đạo nông dân hăng hái đấu tranh cho lợi ích của nông dân, của Tổ quốc”. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ “Cán bộ phải tránh các bệnh chủ quan, hình thức giấy tờ. Phải đưa cố, bần nông tham gia thật sự vào các cấp chính quyền và tổ chức Hội”. Nhiệm vụ của Hội Nông dân Cứu quốc là vận động nông dân tiếp tục tích cực tham gia sản xuất, trực tiếp tham gia chiến đấu; thực hiện cuộc vận động giảm tô 25%, thực hiện giảm tức, chú ý tiếp tục điều tra nông thôn để chuẩn bị thực hiện người cày có ruộng; tổ chức phát triển đổi công, dần công giúp đỡ nhau trong tăng gia sản xuất.
Quán triệt chỉ thị của Trung ương, tỉnh Bạc Liêu phát động bà con nông dân hăng hái thi đua đóng góp cho kháng chiến. Đặc biệt là đẩy mạnh phong trào sản xuất nông nghiệp làm ruộng, làm rẫy, trồng bông dệt vải, nuôi tằm dệt tơ, chăn nuôi và phát triển tiểu thủ công nghiệp; các phong trào trồng chuối, nuôi gà, nuôi vịt ủng hộ bộ đội phát triển sôi nổi. Phong trào chăm sóc thương binh, vệ sinh phòng bệnh, bình dân học vụ diễn ra đều khắp ở các vùng nông thôn.
Tháng 02 năm 1949, Tỉnh ủy chỉ định 05 đồng chí trong Ban Chấp hành Nông dân tỉnh chịu trách nhiệm về Nông vận; nhiệm vụ chủ yếu là nghiên cứu tình hình nông dân bao gồm bần, cố, trung nông, phú nông và xu hướng nguyện vọng của nông dân; đồng thời nghiên cứu hoạt động mọi mặt của Hội Nông dân.
Tháng 9 năm 1949, Ủy Ban kháng chiến hành chính Nam bộ ra sắc lệnh tịch thu ruộng đất của bọn điền chủ người Pháp, địa chủ Việt gian, đồng thời vận động số địa chủ khai minh hiến đất cho cách mạng để cấp cho nông dân; Nam bộ lấy xã Tân Hưng Đông (Ngọc Hiển) làm điểm chỉ đạo để rút kinh nghiệm. Sau khi được học tập thấm nhuần chủ trương của Đảng, rất nhiều địa chủ sẵn sàng hiến đất cho cách mạng như: Trần Trạch Trinh, Hội đồng Viễn, Hội đồng Ninh, Tạ Tấn Thành, Quản Hó, Huyện Truyện, Trần Kỳ, Bang Chúa, Trần Văn Soái, Đỗ Minh Châu, Diệp Văn Lai, Trần Quang Út, Mai Văn Ngà, Nguyễn Văn Hoài…Đối với Trần Trạch Trinh trước đây có gây tội ác với nông dân, ta quyết định tịch thu đất đai và tài sản gồm: 36 con trâu, 100 công vườn và ruộng đất. Hầu hết đất đai của điền chủ người Pháp, Hoa, Ấn, Nhật… đều bị ta tịch thu.
Hầu hết các xã trong tỉnh đều thành lập Hội đồng cấp đất gồm: đại diện Ủy Ban kháng chiến hành chính, Mặt trận, Nông dân, Phụ nữ. Hội đồng tiến hành điều tra để cấp đất cho nông dân; bình quân mỗi nhân khẩu 1 ha, nếu gia đình nào có yêu cầu nhận thêm đều được giải quyết.
Nông dân xã Tân Hưng Đông được cấp trâu và ruộng như: Phan Văn Tượng, Lý Văn Sanh, Lý Văn Bảy… Nhiều nông dân được địa chủ thối tô, trong đó có người còn được vác lúa tới bồ như: Diệp Văn Liếp, Từ Văn Phấn, Huỳnh Quang Minh(1).
Nhờ chính sách ruộng đất của Đảng phù hợp với nguyện vọng đại đa số nông dân, tình hình sản xuất lương thực phát triển vượt bậc. Vụ mùa năm 1948 - 1949, toàn tỉnh canh tác 120.000 ha lúa, 7.000 ha cây công nghiệp và hoa màu, thu hoạch 4.600.000 giạ lúa. Năm 1949 - 1950 thu hoạch 7 triệu giạ lúa. Sau khi cân đối lương thực, bảo đảm nhu cầu trong tỉnh, ta cung cấp cho quân khu 2.500.000 giạ lúa. Về sản xuất tiểu thủ công nghiệp cũng được phát triển; trong tỉnh có 4 nhà máy chà gạo, 16 lò đường, một hãng nước mắm, một lò nấu dầu dừa sản xuất xà bông, ngoài ra còn có lò vôi, lò rèn, lò tương và 1.500 khung dệt chiếu, rất nhiều khung dệt vải. Ta còn sản xuất được giấy gòn, giấy sáp đáp ứng một phần nhu cầu văn phòng phẩm trong tỉnh.
Các xã Quách Văn Phẩm, Trần Phán (Đầm Dơi), Tân Hưng Đông, Tân Hưng Tây, Hưng Mỹ, Phú Mỹ (Cái Nước), Khánh an, Nguyễn Phích, Khánh Lâm, Khánh Bình (Trần Văn Thời), Tân Lộc, Tân Phú, Trí Phải (Thới Bình) phong trào trồng bông dệt vải và trồng dâu nuôi tằm dệt lụa phát triển mạnh mẽ. Chỉ riêng xã Tân Hưng Tây, các ấp Đòn Dong, Tâng Quảng, Kiến Vàng, Quảng Phú, Thứ Vải, Cái Đôi, Công nghiệp đều có phong trào tăng gia sản xuất và trồng bông dệt vải. Mở đầu là các ông Bảy Rô, Ba Chòi, Hai Phương, Ba Đảnh. Xóm Tân Nghĩa - Đường Ven có nhiều gia đình dệt được vải ta, vải tơ như: Huỳnh Văn Tiết, Năm Lục, Huỳnh Văn Hứa, Lê Văn Hai. Ấp Kiến Vàng có vợ chồng Ba Chòi có thể làm bàn đạp, go, làm khổ, kéo chỉ. Vợ đồng chí Tư Hỷ, xã Quách Văn Phẩm cùng nhiều bà con nơi đây cũng biệt dệt vải và trồng bông, trồng dâu, nuôi tằm. Vợ ông Thương mướn thợ từ Tân Châu về ươm tơ, hồ tơ dệt vải. Ở Nguyễn Phích, Khánh An trong khi chờ vải trổ bông, ta vận động bà con nông dân đóng khung dệt, lúc đầu dệt bằng chỉ chuối, chỉ khóm, mặc thay vải, tuy sợi to, thô kệch nhưng có thể giải quyết nhất thời về vải mặc.
Theo báo cáo của Ban Nông dân tỉnh Bạc Liêu năm 1949, phong trào trồng bông và trồng dâu, trồng mía tăng lên đáng kể; báo cáo so sánh từ tháng 8 năm 1949 đến cuối năm 1949 như sau:
- Bông vải tháng 8/1949: 1.182 công, cuối 1949: 3.241 công.
- Dâu tằm ăn: : 1.475 “ “ : 5.264 “
- Mía: : 624 “ “ : 1.624 “
Về sản xuất tiểu thủ công nghiệp: có 8 cơ sở ruộng muối gồm 349 sân phơi, sản xuất 12.000 tấn muối; có 4 lò sà bông, 41 trại xuồng, 8 lò vôi, 123 lò rèn, 1 lò phấn, 1 lò nấu dầu dừa, 1 lò tương, 1 lò giấy, 1 xưởng làm giấy sáp.
Khi vùng giải phóng của ta càng mở rộng và phát triển nhiều mặt, lực lượng của ta tiếp tục tấn công mạnh, địch co cụm không dám bung ra hoạt động. Tỉnh ủy chủ trương xây dựng vùng giải phóng về mọi mặt: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá.
Phong trào thi đua diệt giặc “đói”, giặc “dốt”, giặc “ngoại xâm” được tiếp tục phát động rầm rộ sôi nổi. Địch bị tiến công mạnh phải rút bỏ các tuyến chiến lược quan trọng, co cụm về thị trấn Cà Mau và trục quốc lộ Đông Dương. Tỉnh ủy chủ trương xây dựng vùng nông thôn giải phóng ngày càng mạnh mẽ; tạo nên khí thế mới ở nông thôn; hầu hết các chợ Thới Bình, Cái Tàu, Biện Nhị, Tân Duyệt, Chà Là, Cái Keo, Đầm Cùng, Năm Căn, Nhưng Miên, đều được khôi phục; hoạt động chợ búa đông đảo, các loại hàng tự sản xuất của bà con nông dân có điều kiện lưu thông, trao đổi thuận lợi, kích thích tích cực đến sản xuất; mọi người đều thi đua trồng trọt, chăn nuôi, buôn bán vừa đảm cung, vừa đóng góp cho kháng chiến.
Nhiều trường học mọc lên ở các xóm, ấp tuy cây lá còn tạm bợ nhưng phần đông học sinh đều được đến trường. Ủy Ban kháng chiến hành chính Nam bộ, chủ trương mở các Trường trung học Nguyễn Văn Tố, Thái Văn Lung, Huỳnh Phan Hộ, Nguyễn Công Mỹ thu hút hàng trăm con em, cán bộ và nông dân theo học. Các trường đóng từ Ông Bường, Nàng Chăng, Giồng Ông, Rạch Chệt, Rạch Tắc (thuộc huyện U Minh ngày nay). Cùng với việc mở trường dạy học, phong trào Bình dân học vụ tổ chức, với phương châm“Người biết chữ, dạy người chưa biết – người biết nhiều dạy người biết ít” đã hình thành nếp sinh hoạt lành mạnh trong các tầng lớp nhân dân, đặc biệt đối với bà con nông dân tất cả già trẻ, gái trai đều nô nức tham gia học tập.
Những câu thơ phản ánh tinh thần diệt giặc dốt của bà con ta như vẫn còn vang mãi trong khắp các vùng nông thôn giải phóng.
Khi có chủ trương của Sở Công an Nam bộ về việc thành lập “ngũ gia liên bảo” tức 5 gia đình hình thành một tổ để quan sát, kiểm tra nhau, phát hiện kịp thời bọn gián điệp trà trộn vào vùng nông thôn, chỉ điểm cho địch đánh phá. Đồng bào ta vừa thực hiện “Tam không” vừa hình thành đơn vị học tập bình dân học vụ.
Xã Tân Duyệt (Ngọc Hiển), nhiều người trình độ không cao nhưng vẫn tham gia dạy bình dân học vụ như: Ông Đinh Văn Phước, Bà Nguyễn Thị Hạnh, Ông Đinh Văn Thái; nhiều bà con trong xã nhờ phong trào bình dân học vụ mà thoát dốt như: Nguyễn Văn Tiền, Nguyễn Văn Thữa, Nguyễn Văn Nhâm (03 người này đều đi bộ đội và chiến đấu hy sinh), Trần Thị Sự, Kim Hiền, Hai Phụng, Hai Hường, Sáu Bé… xã Tạ An Khương (Ngọc Hiển), một số cán bộ trở thành giáo viên dạy rất giỏi như: Nguyễn Văn Ấn, Chín Đực, Khánh, Quán, Hinh, Trọng; thầy giáo Khánh dạy nhiều học trò sau này đều trở thành cán bộ cách mạng. Các giáo viên tham gia dạy bình dân học vụ như: Bùi Đại Sử, Giáo Hải, Giáo Phước, Trần Hải Lệ Châu, Trần Hải Lệ Anh (con Trần Hải Thoại); những giáo viên tiêu biểu như: Phù Anh Kiệt, Nguyễn Văn Sắc (xã Tân Thuận), Nguyễn Ngọc Ấn (Tạ An Khương) được bình chọn chiến sĩ bình dân học vụ của huyện Ngọc Hiển. Nguyễn Hồng Cẩm được bình chọn chiến sĩ bình dân học vụ Nam bộ.
Cùng với phong trào, nhiều Hộ nông dân cho mượn nhà làm trường học như: ông Trần Văn Mướp (ngã ba Ký Thuật), ông Dương Văn Thình, ông Ngô Thành Tâm (kinh Ký Thuật), lẫm lúa Sừ Kanu (lô 14). Xã Tân Ân (Ngọc Hiển), bà Huỳnh Thị Trang, mẹ đồng chí Đái Phước Xem 60 tuổi mới biết chữ cũng nhờ tham gia phong trào bình dân học vụ. nhiều đảng viên của xã cũng được xóa dốt như: Diệp Văn Thình, Lê Văn Tiểu, Lê Văn Giáp, Đái Phước Xem, Năm Giác, Bảy Danh, Phạm Văn Cường, Tư Cao… Ở xã Thới Bình có nông dân Nguyễn Hồng Cẩm mới học lớp 3, tham gia dạy học một thời gian “hết chữ”, để có chữ dạy tiếp ban ngày anh đi học lớp 4, ban đêm tiếp tục dạy lớp 4 cho học sinh.
Có thể nói phong trào thi đua diệt giặc dốt diễn ra sôi nổi, đều khắp như thời kỳ này. Đêm đêm dù dưới ngọn đèn dầu cá, dầu mù u hoặc bên bếp lửa bập bùng, từ cụ già đến em nhỏ đều miệt mài, chăm chỉ học tập. Để tạo sự tác động mạnh mẽ đến phong trào học chữ, các trạm gác phòng gian bảo mật của ta còn để một tấm bảng và phấn viết; khi bà con qua trạm phải đọc lên hoặc viết chữ, nếu không đọc, không viết được phải trở về học lại. Phong trào bình dân học vụ, đã gây ấn tượng mạnh mẽ trong lòng bà con nông dân, mọi người vừa tích cực sản xuất, vừa học tập, vừa sẵn sàng cho con em lên đường tòng quân giết giặc cứu nước.
Để khắc phục tình trạng bao vây, phong toả kinh tế địch làm ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nông dân, đặc biệt là tình trạng khan hiếm nhu yếu phẩm như: vải mặc, đường, sữa, thuốc men, dầu lửa, xà phòng, chủ trương của trên tổ chức đưa lương thực, tôm cá, hoa màu ra chợ bán và mua các thứ cần thiết về nông thôn; việc làm này, góp phần tháo gỡ vướng mắc, khó khăn, cải thiện một bước đời sống nông dân. Giữa năm 1948, bà con nông dân hưởng ứng việc phát hành giấy bạc Việt Nam thay tiền Đông Dương ngân hàng của Pháp để lưu hành trong vùng giải phóng.
Sản xuất phát triển, buôn bán được khôi phục và hoạt động bình thường. nông dân vùng giải phóng và người dân ở thị trấn, thị tứ tích cực đóng góp đảm phụ, ủng hộ tài chính cho chính quyền cách mạng nên ngân sách của tỉnh tăng nhanh. Năm 1948 – 1949, việc thu, chi được cân đối, Tỉnh còn nộp cho ngân khố Nam bộ mỗi năm hơn 8 triệu đồng. Xã Khánh Bình, Trần Văn Thời là một trong những xã giữ vững ngọn cờ đầu trong phong trào đóng thuế đảm phụ nông nghiệp (hàng chục nghìn giạ lúa được bà con phơi khô, giê sạch để dự trữ lương thực kháng chiến. Đến ngày giao nộp, từng đoàn xuồng trương băng cờ, khẩu hiệu, đánh trống múa lân và chở đầy lúa, đến nhập kho với khí thế sôi nổi hào hứng). Phong trào này lan rộng khắp vùng.
Qua hơn bốn năm đầu kháng chiến, dù chỉ với tầm vông vạt nhọn, súng kép, phi tiêu, chông lôi, lựu đạn. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông dân Cà Mau đã chiến đấu ngoan cường, ngăn chặn bước tiến của quân địch, xây dựng vùng căn cứ, sáng chế vũ khí, tích cực sản xuất, xây dựng đời sống và trực tiếp nuôi quân đánh địch đã góp phần giành thắng lợi to lớn, mở rộng vùng giải phóng.
Trung ương Đảng tiếp tục ra Chỉ thị về việc giảm tô, giảm tức, Chỉ thị nêu rõ “Muốn hoàn thành giảm tô và thực hiện giảm tức, cần củng cố và phát triển Hội Nông dân Cứu quốc đoàn kết chặt chẽ dân cày nghèo trong hàng ngũ Hội, giáo dục và lãnh đạo họ kiên quyến đấu tranh chống mọi thủ đoạn của chủ ruộng và chủ nợ”.
Tỉnh ủy, Ủy Ban kháng chiến hành chính Tỉnh Bạc Liêu thành lập Hội đồng tạm cấp ruộng đất cho nông dân. Mặt trận Liên Việt tổ chức giáo dục, giác ngộ những thành viên thuộc các thành phần địa chủ, vì lợi ích của cách mạng tích cực tham gia kháng chiến, thực hiện chủ trương của Đảng. Nhiều địa chủ khai minh đã hiến 45.000 ha ruộng đất cho cách mạng, Ủy Ban đã được tạm cấp cho nông dân. Năm 1953, ta lại tiếp tục chủ trương trang trải đất đai; những gia đình thừa đất, ta động viên hiến cho Chính quyền để cấp cho những gia đình nông dân thiếu đất, Ba anh em Lưu Văn Đởm, Lưu Văn Lực, Lưu Ngọc Cứ xã Tân Thuận hiến 150 ha; anh em đồng chí Trần Văn Nhung xã Tân Hưng Tây hiến 1.000 công ruộng để trang trải cho nông dân.
Trong năm 1948 - 1949, Hội Nông dân Cứu quốc tỉnh được bổ sung Ban Chấp hành nông hội Tỉnh từ 07 đồng chí, được bổ sung 17, do đồng chí Nguyễn Văn Nhự làm thư ký. Các Ban Chấp hành Nông hội huyện được thành lập bổ sung thêm cán bộ; năm 1948 số hội viên toàn tỉnh là 10.000, năm 1949 là 19.860 hội viên, có 2.241 tiểu tổ, 306 Ban cán sự ấp (thuộc huyện 4, 32 xã). Xã không có tổ chức Nông hội là Viên An và Tân Ân, lý do miền biển và rừng không có nông dân.
Thành phần Ban Chấp hành các cấp đa số bần nông và trung nông. Trong số ủy viên Ban Chấp hành từ tỉnh đến xã là 378 người (bần cố nông là 257 người, trung nông 116 người, phú nông 5 người).Trong số 19.860 hội viên nông hội có 12.822 bần nông, 2.301 trung nông, 1.354 cố nông, 89 phú nông, người Hoa 60, người Khmer 277. Trong năm 1949 số củng cố đưa ra là 1.043 hội viên(1).
Tháng 2/1949, Tỉnh ủy chỉ định 5 đ/c trong BCH Nông vận chịu trách nhiệm về Nông vận, nhưng trên thực tế chỉ có hình thức còn việc làm thì lại không rõ ràng, chưa phân tích được công việc của Nông vận, với những lý do lề lối làm việc của Ban Chấp hành, hoạt động chỉ đóng khung trong Đoàn thể và Tỉnh, mà không lo Nông vận trong các giới khác; thiếu sinh hoạt thường lệ; Tỉnh ủy kiểm tra, đôn đốc và giúp đỡ hoạt động không thường xuyên; vì thế, trong năm 1949 Ban Nông vận không làm tròn nhiệm vụ, mà chỉ làm công việc Đoàn thể nhiều hơn.
Trong năm 1949, dân cày được chia ra thành 4 hạng: Phú nông, Trung nông, Bần nông và Cố nông; trong đó Phú nông đa phần là đủ ăn, đủ mặc, một số sút kém hơn trước thì chuyển sang làm thêm nghề khác như: mua bán, lập những cơ sở dệt vải, nuôi tầm để tìm cách kiếm lời (số phú nông suy sụp phần đông vừa giữ theo nghề cũ, vừa làm nghề mới, khi đụng phải giá sinh hoạt đắc đỏ, lúa bán không được, nhân công thì mắc, có khi không mướn được người làm); Trung nông thì đời sống đủ ăn, đủ mặc, chỉ một ít suy sụp, số lượng Trung nông trong xã hội ngày một tăng lên (do một số Phú nông suy sụp và Bần nông tiến lên); Bần nông lúc bấy giờ đa phần là thiếu ăn, thiếu mặc, họ phải luôn sống trong khổ cực và thiếu thốn; Cố nông khá hơn so với những năm trước, đã được giải phóng một phần lớn và đời sống cũng không còn cơ hàn như trước…. Do xuất phát điểm khác nhau, đời sống khác nhau nên xu hướng, nguyện vọng và tinh thần đối với kháng chiến, đoàn thể và Đảng cũng khác nhau. Đối với Phú nông, chỉ một số ít có tinh thần cách mạng, còn lại chỉ xoay theo thời cuộc, họ ít có cảm tình với đoàn thể Nông dân, chỉ một số ít có cảm tình với Đảng. Trung nông có cảm tình với cách mạng với Nông hội họ tham gia tích cực vào kháng chiến và rất có cảm tình với Đảng. Bần, cố nông thì triệt để kháng chiến, đặt niềm tin vào Nông hội và thiết tha với Đảng.
Trong thời gian này, Nông hội trong tỉnh được xây dựng ở 32 xã; có 18.860 hội viên, 2.241 tiểu tổ, 306 ban cán sự ấp, 4 huyện và 32 xã đều có Ban Chấp hành chính thức. Riêng có những xã không có tổ chức Nông hội như: Viên An, Tân An (vùng biển và rừng nên không có nông dân). Hầu hết huyện, tỉnh cán bộ phụ trách, đều có năng lực khá và thành phần BCH đa số là Bần nông, Trung nông, Phú nông, có rất ít Cố nông. Đến năm 1950, số ủy viên nông hội các cấp từ tỉnh đến xã trong BCH đều là Trung, Bần, cố nông, Nông hội được kiện toàn về tổ chức từ tỉnh đến xã, đã kiện toàn được 89 hội viên Nông hội; riêng phú nông và địa chủ từ khi thi hành Nghị quyết của nông dân Nam Bộ và của Tỉnh ủy đã kiện toàn được 28 hội viên.
Từ năm 1949 - 1951, đồng bào các tỉnh Bến Tre, Trà Vinh và một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, bị địch đánh phá phải chạy về tỉnh Bạc Liêu, với tinh thần lá lành đùm lá rách, nông dân các huyện trong tỉnh đã ra sức đùm bọc, giúp đỡ tận tình. Tháng 10 năm 1952, đồng bào miền Đông bị bão lụt bị tàn phá nặng nề, hưởng ứng lời kêu gọi của Tỉnh ủy, bà con nông dân Cà Mau đã quyên góp hàng vạn tấn lúa, hàng chục tấn cá khô và rất nhiều tiền bạc giúp đỡ đồng bào miền Đông.
III. NÔNG DÂN CÀ MAU GÓP PHẦN ĐÁNH BẠI THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC, LÂP LẠI HÒA BÌNH Ở VIỆT NAM
Tháng 3 năm 1951, Hội nghị cán bộ Nông dân Toàn quốc lần thứ 2 được triệu tập ở Bắc bộ, hội nghị nêu rõ nhiệm vụ của Hội Nông dân là:
1. Tăng gia sản xuất bảo đảm cung cấp lương thực cho kháng chiến.
2. Tích cực tham gia tác chiến, phát triển du kích nhất là du kích vùng sau lưng địch, phục vụ chiến dịch.
3. Thi hành chính sách ruộng đất, hoàn thành giảm tô, thực hiện giảm tức.
4. Xây dựng Hội Nông dân Cứu quốc lớn mạnh.
Từ năm 1951 - 1953, tỉnh Bạc Liêu đã tạm cấp cho nông dân 101.816 ha đất sản xuất; Chính quyền cách mạng còn đầu tư cho nông dân nghèo thiếu vốn sản xuất 26 triệu đồng. Phấn khởi trước chủ trương chính sách của Đảng; nông dân hăng hái thi đua lao động sản xuất, đưa diện tích canh tác lên 179.000ha, thu hoạch 7.800.000 giạ lúa; nông dân đã đóng góp thuế đảm phụ nông nghiệp hơn 500.000 giạ lúa, nhiều gia đình nông dân ngoài phần đóng góp nghĩa vụ còn ủng hộ hàng chục đến hàng trăm giạ lúa cho kháng chiến. Năm 1953 - 1954, tỉnh tiếp tục cấp thêm đất cho nông dân, đưa diện tích canh tác tăng thêm 50.000 ha. Bà con nông dân đóng thuế đảm phụ nông nghiệp tăng lên 2.000.000 giạ lúa.
Tháng 10 năm 1951, Ủy Ban kháng chiến hành chính tỉnh tổ chức Đại hội bầu chiến sĩ thi đua nông nghiệp trong tỉnh, 5 người được bình chọn là Chiến sĩ thi đua (có 2 nữ); 3 người được cử đi dự Đại hội bầu Chiến sĩ thi đua nông nghệp Nam bộ đó là: bà Lê Thị Thuận, xã Tân Thuận; bà Đào Thị Sóc, xã Trần Hợi; ông Nguyễn Hiệp Hoằng, xã Tân Hưng Đông. Tháng 3 năm 1952, Đại hội bầu chiến sĩ thi đua nông nghiệp Nam bộ gồm 300 đại biểu, được tổ chức tại xã Tân Hưng Đông, huyện Ngọc Hiển. Đại hội bầu bà Lê Thị Thuận là “Anh hùng nông nghiệp” Nam bộ, bà Đào Thị Sóc và ông Nguyễn Hiệp Hoằng được bầu là “Chiến sĩ nông nghiệp” Nam Bộ.
Chị Thuận là người lao động giỏi, đảm đang có lòng nhân ái; chị là vợ anh Cháy (cán bộ Nông hội tỉnh). Chị học được cách phát thế, mỗi ngày phát được 5 công đất cấy; chị phát biểu rất mộc mạc, chân thành: “Tôi làm như con trâu cui, suốt ngày ở ngoài đồng, bất kể nắng mưa, tối về lo cơm, nước cho mẹ, săn sóc đàn con, rồi lại vá quần áo tới khuya, ngã lưng được một chút thì gà đã gáy, lại phải dậy để lo cơm nước… Nhờ biết phát thế, tôi mới đổi công cào, công cấy, công dọn đất để làm được 70 công ruộng hàng năm của gia đình…”.
Bà Đào Thị Sóc, mỗi năm làm 75 công ruộng cho gia đình và làm giúp cho Cơ quan Nam Bộ 50 công đất (tất cả 85 công); trời vừa đâm mây ngay, hai mẹ con đã có mặt ngoài ruộng, đến gần tối mới về. Bà Đào Thị Sóc không biết phát thế, mỗi ngày chỉ phát được một công cấy, cô con gái của bà phát được hai công cấy; Bà phát xong, tiếp tục giúp con để 2 mẹ, con cùng về, cùng lo việc nhà cửa.
Nguyễn Hiệp Hoằng là con một nông dân mạnh khỏe, làm được 70 công ruộng/năm; nhưng anh biết tập hợp nông dân vào hợp tác xã nông nghiệp tại ấp Trần Mót nơi anh ở. Thời ấy bệnh sốt rét thường làm nhiều nông dân bỏ mùa, anh Hoằng biết sắp xếp cho tập thể làm giúp; vì thế Hợp tác xã nông nghiệp ấp Trần Mót phát triển vững chắc, có tủ thuốc nam, có trường học, có phong trào bình dân học vụ và là nơi thoát dốt sớm nhất tỉnh… Từ khi nông dân được cấp đất, Hội Nông dân khuyến khích bà con nông dân đẩy mạnh sản xuất và làm ăn tập thể. Bà con phát huy tinh thần Đại hội Chiến sĩ thi đua nông nghiệp, hăng hái tham gia hợp tác xã; các huyện Trần Văn Thời, Cái Nước, Ngọc Hiển, bà con tổ chức được một ngàn tổ vạn vần đổi công và 20 hợp tác xã nông nghiệp.(1)(1)
Cùng với phong trào thi đua sản xuất, điều đáng chú ý trong thời điểm này là phong trào Tòng quân giết giặc và xây dựng lực lượng dân quân du kích. 65.000 nam - nữ thanh niên là con em nông dân tham gia du kích, đi dân công tải đạn, tiếp tế cho chiến trường; gần 3.000 thanh niên nông dân tham gia vệ quốc đoàn, hàng chục vạn nông dân tham gia các hoạt động hàn cản, phá hoại giao thông, sản xuất chông, lôi đánh địch….Phong trào đấu tranh chính trị cũng diễn ra sôi nổi, nhiều nơi nông dân đấu tranh buộc địa chủ phải trả lại ruộng đất, hoặc thối tô. Bà con còn đấu tranh giải thoát cho những nông dân vì thiếu nợ phải đi ở đợ cho địa chủ, phần đông là anh chị em người Khmer.
Phong trào y tế, văn hoá, xã hội cũng được phát triển mạnh mẽ như: Phong trào thực hiện 3 sạch (ăn sạch, ở sạch, uống nước sạch). Hệ thống giáo dục tiểu học, phổ thông phát triển đều khắp ở nông thôn; phong trào bình dân học vụ, chống mù chữ được bà con nông dân hưởng ứng nhiệt liệt; chỉ tính riêng huyện Trần Văn Thời, Ngọc Hiển đã có trên 500 lớp học bình dân học vụ. Tệ nạn cờ bạc, rượu chè, trộm cắp, mê tín dị đoan bị bài trừ và hạn chế đến mức thấp nhất ở vùng nông thôn giải phóng.
Công tác hậu phương quân đội được phát động và được bà con nông dân hưởng ứng nồng nhiệt. Các mẹ, các chị luôn luôn sẵn sàng săn sóc Bộ đội, du kích; khi bộ đội về làng, các mẹ, các chị lo may vá quần áo, cơm nước, thuốc men, đặc biệt là việc lo chăm sóc thương binh, ai cũng giành phần mình được nhận thương binh về nuôi dưỡng, lo ăn uống, thuốc thang điều trị; má Nguyễn Thị Mẹo (ở Trí Phải) nhận nuôi một thương binh suốt 3 tháng. Các đơn vị 307, 410 hoặc các đơn vị Cửu Long về đến Thới Bình đều được chăm nom lo lắng; bà con nông dân xã Tân Lộc còn giành 20 ha ruộng ở Đồng Sậy cho đơn vị 307, 410 sản xuất tự túc. Phong trào gã con cho thương binh, bộ đội từ những năm trước được duy trì và mở rộng; Má Cẩn ở Thới Bình gã chị Hồ Thị Nén cho anh Khâm đơn vị 410; Má Nguyễn thị Nhàn gã chị Huỳnh Thị Diềm cho anh Sinh là thương binh...
Tiếp tục xây dựng nếp sống văn hoá ở nông thôn, thực hiện chủ trương đồng chí Nguyễn Tấn Đạt (Sáu Già) Thư ký Ban Chấp hành Nông dân tỉnh, về xã Khánh Bình (huyện Trần Văn Thời) phát động nông dân xây dựng “Đời sống mới”. Một trong những xóm làng được xây dựng là đoạn kinh từ kinh So Le đến kinh Đỗ Khắc Thành, chiều dài hơn 2 cây số. Bà con nông dân được phát động đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau trong lao động sản xuất, tham gia các đoàn thể cách mạng, thực hiện nếp sống mới trong hôn lễ, tang tế, thờ cúng, thực hiện vệ sinh, sạch đẹp và bài trừ mê tín dị đoan. Con kênh này thành danh là kênh kiểu mẫu cho đến nay (hiện thuộc xã Khánh Bình Đông, Trần Văn Thời). Sông Cái Tàu thuộc xã Nguyễn Phích là nơi có phong cách, nếp sống khá lịch sự, nhà cửa, vườn tược đều sạch đẹp, cầu lộ đàng hoàng; tạo được phong trào văn nghệ, phong trào hội họp, học tập diễn ra sôi nổi, tươi vui; hầu hết trẻ em đều được cắp sách đến trường; đêm đêm đều có tiếng loa loan tin chiến thắng trong các thôn xóm. Phong trào xây dựng nếp sống văn hoá còn được nhân rộng ra các huyện Thới Bình, Ngọc Hiển và nhiều nơi khác trong tỉnh.
Hưởng ứng chiến dịch Đông Xuân năm 1953 - 1954, mà đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ nhằm đánh bại hoàn toàn thực dân Pháp xâm lược. Phong trào hoạt động cách mạng của bà con nông dân càng diễn ra quyết liệt trên các mặt sản xuất, đóng góp, thi đua tòng quân, tham gia lực lượng du kích, hỗ trợ cho kháng chiến. Nổi bật nhất là phong trao du kích chiến tranh, tiếp đạn, tải thương, tiếp tế, bao vây, bức rút, bức hàng, nhiều đồn bót địch và tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, góp phần cùng cả nước đánh địch tại tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, buộc thực dân Pháp phải ký kết Hiệp định Geneve, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương vào ngày 20 tháng 7 năm 1954.
Ngày 27 tháng 7 năm 1954, quân đội Pháp cùng các cơ quan hành chính ngụy rút khỏi thị trấn Cà Mau, Tắc Vân, Hộ Phòng, Giá Rai để quân ta tiếp quản và Cà Mau là nơi được chọn làm khu vực tập kết của Nam bộ.
Lệnh ngừng bắn ở Nam bộ bắt đầu từ 7h00’ sáng ngày 01 tháng 8 năm 1954. Ngày 26 tháng 8 năm 1954, hơn 2 vạn đồng bào nông thôn rầm rộ kéo về thị trấn Cà Mau míttinh chào mừng Hòa bình; thị trấn Cà Mau náo nhiệt dưới rừng băng cờ, khẩu hiệu.
Hai trăm ngày khu tập kết ở Cà Mau, Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh đã khắc phục những khó khăn, xây dựng các tổ chức đoàn thể, nhất là nông dân làm nòng cốt giữ gìn trật tự, an ninh, chăm lo cho bộ đội, cung cấp hậu cần (lương thực, thực phẩm), đảm bảo cho lực lượng tập kết khi xuống tàu cuối cùng ra Bắc được an toàn.
Cơ quan, bộ đội của Nam bộ, Khu 9 và của tỉnh tập kết về đây được bà con đùm bọc, nuôi dưỡng, chăm sóc và tổ chức liên hoan, động viên tiếp tục chuẩn bị đấu tranh thống nhất nước nhà; nhiều bà con nông dân giết trâu, heo, gà, vịt, làm bánh, mứt tiếp tế và ủy lạo cán bộ, chiến sĩ; nông dân xã Tân Lộc làm 17 con trâu, 32 con heo và hàng nghìn con gà, vịt.
Để thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Ủy Ban hành chính kháng chiến tổ chức trao tặng bằng khen, giấy tuyên dương của Chính phủ cho các gia đình có công với cách mạng, các nhân sĩ, tôn giáo, đảng phái đã góp công sức cho kháng chiến. Chính quyền cũng chứng nhận sở hữu ruộng đất cho nông dân, ai chưa có đất được cấp đất; ta đã cấp hàng vạn ha đất cho nông dân nghèo vùng mới tiếp quản và thực hiện đổi tiền Đông Dương ngân hàng, thu lại tiền tài chính Việt Nam cho đồng bào.
Các gia đình nghèo khó được cứu trợ tiền, gạo; nhiều nhà ở của bà con nghèo được tu sửa; nhiều nhà bảo sanh, trạm y tế, trường học được trùng tu, xây dựng; đường xá, cầu cống được chỉnh trang, tu sửa, mương cống được nạo vét; nếp sống văn hoá được tuyên truyền và thực hiện với các hoạt động văn nghệ như: văn công, điện ảnh được phục vụ thường xuyên...
Thành tựu xây dựng cuộc sống mới tuy với thời gian ngắn ngủi, nhưng chứa đựng nhiều ý nghĩa, tình Dân nghĩa Đảng càng thắm thiết. Bà con nông dân càng thấy rõ đường lối, chính sách của Đảng, phù hợp với ước mơ và nguyện vọng của mình. Nền tảng tinh thần này có ý nghĩa vô cùng sâu xa, khi kẻ thù quyết tâm phá hoại Hiệp định Geneve, tiếp tục tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược mới. Cũng chính từ đó Nông dân Cà Mau đã thể hiện ý chí, quyết không khuất phục quân thù tàn bạo, cùng đoàn kết chiến đấu dưới ngọn cờ của Đảng đến thắng lợi hoàn toàn.
Tại xã Trí Phải, trước khi đoàn cán bộ, chiến sĩ lên đường tập kế ra Bắc, có Bà mẹ chiến sĩ tên Lê Thị Sảnh gởi tặng Bác Hồ cây vú sữa. Ngày mồng 2 Tết năm 1955, phái đoàn Trung ương Cục Miền Nam ra đến Hà Nội, đến chúc mừng Bác Hồ, mang theo cây vú sữa và thưa với Bác “Đây là cây vú sữa của Đồng bào Miền Nam gởi tặng Bác”. Bác Hồ đã chăm sóc cây vú sữa, xem như chăm sóc đồng bào Miền Nam. Cây vú sữa trở thành biểu tượng độc đáo, rực rỡ về tấm lòng Miền Nam đối với Bác Hồ và Bác Hồ đối với Miền Nam.
Dù quân thù có tráo trở, lật lọng, cố tình phản bội Hiệp định Geneve, tiến hành chiến tranh xâm lược với qui mô khốc liệt nhất, Nông dân Cà Mau vẫn một lòng, một dạ đi theo con đường của Đảng, của Bác Hồ, đoàn kết chặt chẽ, không sợ hy sinh, gian khổ, đấu tranh bất khuất, kiên cường để giành độc lập, tự do cho Tổ quốc. Nông dân tất cả đều sẵn sàng đương đầu với cuộc chiến đấu mới vô cùng gay go, quyết liệt, với ý chí kiên quyết xông lên giành thắng lợi cuối cùng.
PHẦN II
ĐẤU TRANH CÁCH MẠNG CỦA NÔNG DÂN
CÀ MAU TRONG THỜI KỲ CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC
(1954 - 1975)
CHƯƠNG IV
CHUYỂN HƯỚNG CÁCH MẠNG TIẾN LÊN ĐỒNG KHỞI
(1954 - 1960)
I. NHỮNG NGÀY TẬP KẾT RA BẮC VÀ ĐẤU TRANH GIỮ GÌN LỰC LƯỢNG:
Cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược đã giành được thắng lợi vĩ đại. Hiệp định Geneve được ký kết, theo qui định của hiệp định đến ngày 16 tháng 5 năm 1955, toàn bộ quân Pháp sẽ rút khỏi miền Bắc. Miền Bắc nước ta hoàn toàn được giải phóng. Ở miền Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào tạm thời giao cho chính quyền đối phương quản lý.
Theo như hiệp định Khu vực Bạc Liêu - Cà Mau là vùng tập kết 200 ngày của lực lượng kháng chiến Nam Bộ. Tỉnh ủy Bạc Liêu(1) chủ trương phát động đợt học tập chính trị về tình hình nhiệm vụ, phương châm sách lược mới và triển khai nội dung Hiệp định trong các đoàn thể và nhân dân. Tích cực xây dựng và củng cố vùng nông thôn giải phóng ; tiếp tục giải quyết dứt điểm tạm cấp đất và tạm giao đất cho nông dân ; thực hiện tốt việc chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, các chính sách thi đua khen thưởng gia đình có công cách mạng, đền ơn đáp nghĩa.
Đẩy mạnh sản xuất, phát triển công tác giáo dục, y tế, xây dựng đời sống mới về nhiều mặt... Các cấp ủy Đảng, Chính quyền tập trung chỉ đạo chuyển hướng về tổ chức, bố trí sắp xếp lại đội ngũ cán bộ, đảng viên, cốt cán, nòng cốt tạo điều kiện hợp pháp để từng bước thích hợp trong cuộc đấu tranh mới. Đây là nhiệm vụ rất quan trọng mà mỗi cấp ủy đảng và địa phương phải thực hiện tốt để bảo tồn lực lượng. Nông dân lúc bấy giờ, trở thành nơi che chở bảo vệ cán bộ trên mọi lĩnh vực.
Đất nước bị chia cắt, Nhân dân miền Nam sống trong cảnh quản lý độc tài của chính quyền Ngô Đình Diệm, cho nên tình hình chính trị - tư tưởng trong Đảng và quần chúng có nhiều diễn biến phức tạp. Bởi vì đất nước vừa được hưởng không khí hòa bình trong thời gian ngắn ngủi lại phải sống dưới chế độ chủ nghĩa thực dân mới; tiếp tục cuộc chiến đấu với trạng thái chiến tranh không cân sức. Kẻ thù có đủ một bộ máy chiến tranh đồ sộ cả lực lượng và vũ khí. Nhân dân Miền Nam từ đấu tranh vũ trang, chuyển hướng sang đấu tranh chính trị, trong điều kiện hết sức phức tạp. Từ đó có xuất hiện tư tưởng bi quan, lo lắng cách mạng Miền Nam và nhân dân ta sẽ sống ra sao? bà con nông dân trong tỉnh băn khoăn, lo âu thành quả ruộng đất được Đảng và chính quyền cách mạng đem lại cho dân cày nghèo trong 9 năm kháng chiến, giờ đây không biết có còn giữ được nữa hay không? Đó là vấn đề tư tưởng đang diễn ra không chỉ trong nông dân mà còn trong các tầng lớp nhân dân trong tỉnh.
Từ thực tế đặt ra cần nhanh chóng ổn định tư tưởng, tâm trạng cho nông dân, Tỉnh ủy tăng cường một số cán bộ cấp tỉnh xuống các huyện tổ chức học tập, quán triệt tình hình nhiệm vụ phương châm, sách lược mới của Đảng cho cán bộ cơ sở, nòng cốt, cốt cán của Đảng và nhân dân. Qua đợt phát động học tập từ nội bộ ra quần chúng về chiều sâu và sử dụng hình thức tuyên truyền cổ động trực quan, đã giải quyết được những tâm trạng lo âu lúc ban đầu của cán bộ và quần chúng. Từ đó, nhân dân trong tỉnh nói chung và nông dân nói riêng phấn khởi, lòng tin được củng cố, tăng cường sức mạnh đoàn kết, để cùng Đảng bước vào thế trận đấu tranh mới.
Trước hết, tập trung đấu tranh đòi thực hiện quy định của Hiệp định Geneve. Ở các vùng nông thôn hàng ngàn hội viên nông dân là lực lượng nòng cốt khẩn trương bắt tay xây dựng khu vực 200 ngày tập kết. Nhiều trường học ở các ấp được tu sửa và xây dựng mới, bình dân học vụ và bổ túc văn hóa phát triển đều khắp trong xóm ấp. Bà con nông dân hăng hái tham gia học tập, có những người tóc bạc phơ cũng xách đèn, đốt đuốc đi dự các lớp học đêm, vừa xóa được mù chữ cho bản thân, vừa động viên con cháu tham gia học tập. Chỉ trong thời gian ngắn nhiều khu vực, địa bàn ở nông thôn của tỉnh đã cơ bản xóa được nạn mù chữ. Đây là thành quả quan trọng mà nông dân và Hội Nông dân Cà Mau thực hiện Lời kêu gọi của Bác Hồ về “Chống giặc dốt”, cán bộ, hội viên, nông dân đã nhận thức được “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Thực hiện chủ trương của Đảng, bà con nông dân đã đóng góp cây lá, tiền bạc và công sức xây cất nhiều trạm y tế, nhà hộ sinh để chăm lo sức khỏe của người dân ; tỉnh tăng cường cho cơ sở nhiều cán bộ y tá, hộ sinh, thuốc men và dụng cụ y tế, nhằm đảm bảo yêu cầu phục vụ sức khỏe cho nhân dân và cán bộ, chiến sĩ các tỉnh đóng quân trên địa bàn trong thời gian chờ đợi tập kết ra miền Bắc. Tinh thần phục vụ của cán bộ y tế rất nhiệt tình đã chữa trị được kết quả một số ca bệnh hiểm nghèo. Đồng bào ở địa phương khen ngợi và rất tín nhiệm ; nhất là đoàn cán bộ của Sở Y tế Nam Bộ tăng cường xuống tỉnh Bạc Liêu có bác sĩ Hưởng và nhiều đồng chí khác dùng phương pháp cấy Fi-la-tốp có nhiều kết quả ; tiếng lành đồn xa, do đó, một số người ở các tỉnh và thành phố cũng tìm đến đây vừa trị bệnh, vừa có thì giờ thăm vùng “Việt Minh” để tận mắt trông thấy những đổi thay trong vùng tự do. Họ so sánh ở vùng Việt Minh với vùng địch kiểm soát có những khác biệt đáng kể ; nơi họ sinh sống ngay trong vùng địch kiểm soát, người dân không được tự do. nạn trộm cắp, mại dâm, đá gà, cờ bạc, hút xách diễn ra trước mắt. Còn ở vùng Việt Minh thật đúng với tên gọi là “Vùng tự do”, nhân dân ở dây sống thoải mái, trật tự xã hội ổn định, nếp sống của bà con nông dân ở nông thôn rất bình dị, nhà lá và cây gỗ địa phương nhưng rất gọn gàng, sạch sẽ, thoát mát, đường sá sạch đẹp, nối liền xóm này sang xóm khác, trường học, trạm xá tuy bằng cây lá địa phương nhưng rất khang trang.
Nông dân các xã Thạnh Phú, Phong lạc, Tân Hưng Đông, Hưng Mỹ, Khánh Bình Tây, Tân Ân, Viên An, Năm Căn, đã tham gia xây cất hàng trăm căn nhà cho cán bộ, bộ đội của các tỉnh về đây ăn ở, trong thời gian chờ đợi lên tàu tập kết và tiếp đón thân nhân đến thăm viếng, đưa tiễn. Bà con coi như ruột thịt trong nhà, nhiều gia đình nông dân tuy không khá lắm nhưng vẫn sẵn sàng đón nhận nuôi cả chục người trong thời gian chờ ngày tập kết ra Bắc.
Bà con nông dân trong tỉnh đã đóng góp hàng chục ngàn giạ gạo, ủng hộ hàng vạn ký cá khô, tôm khô, heo, gà, vịt… để nuôi bộ đội, cán bộ tập kết. Hàng ngàn lực lượng nông dân tự giác góp công sức và phương tiện xuồng, ghe để chuyển lực lượng đang đóng quân về cửa sông Ông Đốc để lên tàu của Liên Xô và Ba Lan tập kết ra miền Bắc. Chuyến tàu cuối cùng chuyển quân tập kết rời bến, tình cảm của người đi và người ở lại đầy lưu luyến, mến thương. Họ thầm hứa hẹn sau 2 năm xẽ trở về.
II. CÁCH MẠNG MIỀN NAM CHUYỂN HƯỚNG VÀO HOẠT ĐỘNG BÍ MẬT
Khu vực 200 ngày tập kết ở Bạc Liêu - Cà Mau lần lượt bàn giao lại cho đối phương quản lý. Chính quyền Ngô Đình Diệm tiến hành đưa quân chiếm đóng lại các đồn bót khắp nơi trong tỉnh, dựng lại bộ máy ngụy quân, ngụy quyền từ tỉnh đến xã, ấp. Chúng tăng cường bắt lính, đôn quân, thành lập lực lượng cảnh vệ và nhiều tổng đoàn dân vệ, chiếm đóng chi khu, đồn bót.
Ở xã, địch lập ra cơ quan Hội đồng hương chính, có xã trưởng, cảnh sát trưởng và các tổ chức phản động “Phong trào cách mạng quốc gia”, “Bảo vệ hương thôn”. Bộ máy tề ấp có trưởng, phó chủ ấp, liên gia… Ngoài ra, chúng còn xây dựng hệ thống mật vụ, tình báo, điềm chỉ viên để theo dõi đánh phá cơ sở cách mạng.
Địch xây dựng bộ máy ngụy quân, ngụy quyền từ Trung ương đến xã, ấp vừa ổn định. Chúng bắt đầu mở những cuộc hành quân càn quét, khủng bố nhân dân, truy tìm những người kháng chiến cũ, bắt bớ giam cầm để trấn áp phong trào ; hành quân càn quét đến đâu chúng ra lệnh đóng cửa trường học, giải tán nhà bảo sanh đến đó. Nông dân nhiều nơi như: Thạnh Phú, Phong Lưu, Hưng Mỹ, Phong Lạc, Khánh Bình Tây, Tân Hưng Đông, Phú Mỹ … đã đấu tranh quyết liệt với địch. Đặc biệt chị em phụ nữ, cán bộ nông Hội làm nòng cốt đấu lý với địch; Chúng oạnh oẹ, hạch sách:
- Ai cất nhà bảo sanh này? Ai cất trường học này? v.v…
- Anh chị em thản nhiên trả lời: Do dân đóng góp xây dựng nên.
- Chúng chất vấn thêm: Các người học ở đâu mà dám hành nghề?
- Các chị mạnh dạn trả lời: Trước kia cách mạng mở lớp dạy, chị em chúng tôi học, cùng với mấy bà “Mụ Tây” giúp bà con đang cần nơi trị bệnh và sinh đẻ an toàn ; trường học cũng do bà con tự cất lên, mướn thầy dạy cho con mình biết chữ ....Trước lý lẽ sắc bén của chị em, địch không thể giải tán được nhà bảo sanh, không đóng cửa trường học được, phải bẻng lẻng rút đi.
Tiếp thu Nghị quyết Trung ương về nhiệm vụ cách mạng miền Nam trong giại đoạn mới là sắp xếp tinh gọn lực lượng, nhất là bộ máy. Tỉnh ủy đã kịp thời sắp xếp tổ chức, bố trí lại lực lượng phù hợp với tình hình, phương châm, sách lược mới. Về công tác xây dựng Đảng, Đoàn thanh niên, Tỉnh ủy chỉ đạo các Huyện ủy và chi ủy xã phân 3 loại đảng viên: A, B, C để bố trí theo từng loại Chi bộ thích hợp. Điều đặc biệt quan trọng là việc xem xét, cân nhắc những đảng viên, đoàn viên vững vàng có điều kiện hợp pháp, lúc giao thời địch dựng lên bộ máy ngụy quân, ngụy quyền ở xã, ấp ta cài lực lượng vào (Đây là một công tác chiến lược của Đảng). Trong lực lượng cảnh vệ binh của địch, ta đã đưa vào nhiều đảng viên, đoàn viên, hội viên Nông Hội để nắm giữ các chức vụ: Trưởng, phó đồn, Tổng đoàn trưởng, phó dân vệ; Hội đồng hương chính xã, ủy viên cảnh sát, trưởng, phó ấp, liên gia trưởng…Các chi bộ Đảng còn cân nhắc, lựa chọn số đồng chí đảng viên, đoàn viên, cán bộ nông Hội vào lực lượng “Tự vệ mật”, đặc biệt hội viên nông hội cốt cán được bố trí hầu hết các tổ chức của địch ở nông thôn để làm nòng cốt và bảo vệ các cuộc đấu tranh chính trị của quần chúng sau này.
Các tổ chức Đoàn thể Nông dân, Thanh niên, Phụ nữ được sắp xếp tinh gọn, cán bộ nông dân tỉnh, huyện chỉ còn lại vài ba đồng chí phụ trách, với tên gọi “cán bộ nông vận - thanh vận - phụ vận”. Ở tỉnh, Tỉnh ủy bố trí các đồng chí: Nguyễn Sấn, Nguyễn Tấn Đạt (Sáu Già), La Lâm Gia (Bảy Máy) phụ trách công tác nông vận. Ở xã có đồng chí Thường vụ Chi ủy phụ trách nông vận. Để tập hợp quần chúng vào tổ chức công khai hợp pháp với hình thức “Tổ chức biến tướng” như: tổ vạn vần đổi công phát, cấy, gặt, vá lưới, đóng đáy, khai thác gỗ, tổ bình dân học vụ, hội chùa miếu, hội nữ công gia chánh, may thêu, đan đát, dệt chiếu, làm bánh, hội banh, đội ca múa thiếu nhi v.v…Về hình thức sinh hoạt phù hợp với nghề nghiệp và quyền lợi giới để nghi trang với địch, về nội dung gắn quyền lợi dân sinh, dân chủ với quyền lợi giai cấp và đấu tranh giai cấp trong cuộc đấu tranh “một mất một còn” với kẻ thù.
III. PHONG TRÀO NÔNG DÂN ĐẤU TRANH CHỐNG KHỦNG BỐ
Sau khi ta chuyển quân tập kết ra Miền Bắc theo hiệp định Geneve, so sánh lực lượng giữa ta và địch ở Miền Nam có thay đổi lớn. Ta tuy có ưu thế về chính trị và lực lượng quần chúng nhân dân, đông đảo nhất là nông dân và giai cấp nông dân đã trở thành đội quân chủ lực của cách mạng; nhưng ta không còn lực lượng vũ trang công khai và không còn chính quyền. Trong khi đó, kẻ thù có đầy đủ sức mạnh về kinh tế về quân sự, có bộ máy ngụy quân - ngụy quyền đồ sộ. Trong những năm 1954 - 1956, xuất phát từ so sánh lực lượng không có lợi cho ta và từ mục tiêu trước mắt của cả nước là đấu tranh đòi thi hành hiệp định Geneve, Đảng ta chủ trương thực hiện thế giữ gìn lực lượng bằng cách sử dụng các hình thức đấu tranh thích hợp, nhằm hạn chế tổn thất và duy trì cho được phong trào cách mạng.
Trên địa bàn Cà Mau, Đảng đã phát động một phong trào chính trị rộng lớn, huy động hàng 100 ngàn quần chúng tham gia, đòi đối phương phải thi hành hiệp định đình chiến, thực hiện việc tổ chức hiệp thương tổng tuyển cử với Miền Bắc, đòi các quyền dân sinh, dân chủ, chống khủng bố, đàn áp những người kháng chiến cũ và chuyển hướng nội dung và phương thức đấu tranh cho phù hợp tình hình lúc bấy giờ. Tỉnh ủy chỉ đạo tuyên tuyền chiều sâu, gặp gỡ cán bộ, đảng viên và quần chúng giải thích, để nắm vững mục tiêu đấu tranh trước mắt và lâu dài, sử dụng nhiều hình thức thích hợp. Từng cuộc đấu tranh có đặt yêu cầu, phải đạt được về quyền lợi kinh tế gắn với yêu cầu chính trị đi từ thấp tới cao, theo phương châm “Có lý, có tình, có lợi, có mức”. Tránh phô trương lực lượng, chủ quan mất cảnh giác, tránh bị kích động gây tổn hại cho ta.
Tại huyện Cái Nước, đầu năm 1956, bọn ngụy quân, ngụy quyền địa phương tiến hành mở nhiều cuộc càn quét, biệt kích bắt bớ khủng bố, đàn áp những người kháng chiến cũ. Trong một đêm chúng biệt kích vào xóm, ấp bắt hai anh thanh niên Trần Thanh Bình (ấp Cái Nước), Trần Văn Hil (ấp Nghĩa Hiệp) dẫn về chi khu Cái Nước. Chi ủy xã Tân Hưng Đông kịp thời huy động trên 700 lực lượng nông dân gồm những người trung niên và phụ nữ tay xách cây roi, đèn đuốc đuổi theo bọn biệt kích. Nhà nhà đều đánh mỏ la ó “Ăn cướp”, “Ăn cướp vào xóm bà con ơi!”; tiếng mỏ nổi lên dài từ xóm này sang xóm khác. Bà con nông dân, chị em phụ nữ đội ngũ chỉnh tề, trong tay có cây roi tự vệ, từ Cái Hàng Nghĩa Hiệp kéo ra, từ ông Phụng, ông Khâm kéo vào bao vây sát chi khu, đèn đuốc sáng rực. lực lượng bao vây đánh mỏ vang động từng hồi. Anh Ngô Minh Ơn (một thanh niên nông dân ấp Cái Nước), anh Nguyễn Văn Niệm (đảng viên ấp Cái Hàng), anh Nguyễn Hồng Cơ (Tư Rẩy) giáo viên, các anh dùng lọ nghẹ vẽ râu và bịt khăn rằn lên đầu, giả dạng nông dân để tránh bọn chỉ điểm nhìn mặt, các anh dùng giấy cứng cuốn tròn làm ống loa cổ động cho đoàn người bao vây chi khu Cái Nước. Từng chập, từng đợt hô khẩu hiệu vang dậy “Đả đảo hành động bắt người vô cớ”, “Yêu cầu Quận trưởng thả người bị bắt”; từ 4 phía tiếng hô đả đảo vang lên dậy đất ; lực lượng bao vây gần đến sáng địch mới chịu thả anh Bình và anh Hil trở về. Phong trào “Dân canh chống cướp” ở nhiều nơi đã diễn ra sôi nổi, quyết liệt, giải thoát nhiều cán bộ kháng chiến khỏi bị địch bắt. Đây cũng là hình thức “Hợp pháp” để đấu lý với địch, nhưng thực chất là những cuộc tập dượt, huy động bạo lực quần chúng kết hợp vũ trang cây roi tự vệ chống địch càn quét, chống biệt kích rất có hiệu quả. Từ đó tạo khí thế cách mạng trong nông dân của tỉnh phát triển sẵn sàng đấu tranh với kẻ thù.
Chi ủy xã Tân Hưng Đông bố trí đảng viên các ấp Cái Hàng, Nghĩa Hiệp, Cái Nước, Hoàng Lân, Ngọc Huờn… chuẩn bị băng, cờ, khẩu hiệu treo dán khắp các ngã đường chung quanh chi khu Cái Nước. Các tổ Đảng giao nhiệm vụ cho tổ đoàn thể và số nông dân hợp pháp (cơ sở của ta) cùng với số đoàn viên được bố trí canh giác bảo vệ lực lượng treo băng cờ ; từ 22 giờ đến 23 giờ đêm ngày 19 tháng 7 năm 1956, các điểm được bố trí treo băng, cắm cờ đã hoàn thành đúng kế hoạch, lực lượng trở về an toàn. Riêng điểm đột xuất treo băng cờ ở gần Vàm Láng Tượng do anh Hai Huờn (cán bộ nông hội); sau khi làm xong nhiệm vụ treo băng cờ trở về nhà, anh nghi ngờ sợ treo băng ngược đầu chữ nên xách đèn và giỏ bắt nhái, cần câu thượt để nghi trang, anh bơi xuồng tới tấm băng đã căng ngang sông, xem lại cẩn thận; thình lình một toán biệt kích chi khu Cái Nước đi vào, do thiếu úy Bông chỉ huy, chúng hô to “Việt cộng”, tiếp theo là một loạt tiểu liên bắn trúng anh Hai Huờn, anh Huờn ngã lăn trên xuồng, giãy chết, máu me lai láng trong xuồng. Sự hy sinh của người nông dân nói lên tinh thần trách nhiệm được phân công trong bối cảnh hết sức đặt biệt.
Sáng sớm 20 tháng 7 năm 1956, Chi ủy xã Tân Hưng Đông vận động gia đình anh Hai Huờn và hàng ngàn nông dân các ấp kéo biểu tình đấu tranh trực diện tại chi khu Cái Nước. Tử thi anh Huờn được đắp chiếu cẩn thận trên chiếc xuồng anh đi câu thượt cá hàng ngày (chở cả cần câu, giỏ soi nhái, lồng đèn). Chị Hai Huờn quấn khăn tang cùng các con, đặt lư hương trước thi hài anh, chèo xuồng chở tử thi dẫn đầu đoàn đấu tranh trực diện; khi xuồng chở tử thi anh Hai Huờn cặp bến chợ Cái Nước - đối diện Chi khu Cái Nước; tức thì cả đoàn người xúm lại kéo chiếc xuồng chở tử thi lên giữa chợ nhà lồng. Bà con người Việt, người Hoa buôn bán tại chợ tập trung lại đông nghẹt. Tiếng kêu khóc thảm thiết, tiếng nguyền rủa bọn giết người vang động cả khu chợ, cùng với tiếng hô: “Đả đảo bọn giết người!”, “Yêu cầu quận trưởng đưa tên sát nhân ra trực tiếp nhân dân hỏi tội!”, kéo dài đến trưa quận trưởng Cái Nước phải chấp nhận yêu sách: Trừng trị tên sát nhân và bồi thường nhân mạng cho gia đình nạn nhân, đưa 1 tiểu đội lính lo chôn cất thi hài anh Huờn. Đây là cuộc đấu tranh rất dũng cảm của lực lượng nông dân, phụ nữ đã mưu trí đấu lý với kẻ thù thắng lợi.
Bước vào năm 1957, bọn ngụy quyền tỉnh An Xuyên bắt đầu cưỡng ép nông dân kê khai ruộng đất, lập khế ước, nhằm dựng sống lại giai cấp địa chủ ở nông thôn, cướp đoạt ruộng đất của nông dân đã được cách mạng tạm cấp cho dân cày nghèo trong thời kỳ chống Pháp. Kẻ thù mưu toan xóa bỏ thành quả cách mạng đã đem lại cho nông dân, biến nông dân sống lại kiếp tá điền, nộp tô cho địa chủ.
Bọn ngụy quyền Sài Gòn ra chỉ dụ cho quyền bọn địa chủ từ thành phố về thu tô xáo canh, chiếm đoạt lại ruộng đất. Việc cướp đất của nông dân được ủng hộ, đặc biệt là chỉ dụ 57 là dụ rất nguy hiểm là buộc nông dân phải làm khế ước giao trả đất lại cho địa chủ, truy nộp tô cho chúng như thời làm tá điền trước kia. Các Đảng bộ huyện, xã trong tỉnh Cà Mau phát động nông dân đấu tranh giữ đất, kiên quyết không làm khế ước, không nộp tô cho địa chủ. Với lý do đất này là do nhân dân ta kháng chiến chống Pháp giành lại được, cấp cho dân cày nghèo, chớ không phải đất này do công lao của địa chủ khai phá mà buộc nông dân phải trả đất cho địa chủ. Chủ trương của Đảng phù hợp với nguyện vọng của nông dân, cho nên đã huy động hàng vạn nông dân đứng lên đấu tranh quyết liệt chống lại chỉ dụ số 2 và chỉ dụ 57 của chính quyền Ngô Đình Diệm.
Huyện Đầm Dơi, quận trưởng Lê Phú Nhung ra lệnh cho Hội Đồng hương chính các xã, chủ ấp phát tờ kê khai, lập khế ước cho từng hộ nông dân để thực hiện chỉ dụ 57 của Tổng thống Ngô Đình Diệm. Bọn Tề xã, ấp phải râm rấp thi hành. Để lãnh đạo nông dân, Chi bộ, tổ đảng các xã hướng dẫn dư luận đấu tranh chống lại, từng hộ nông dân đều được trang bị lý lẽ, cùng với việc gom hết các bản khế ước trả lại cho chủ ấp. Ta lãnh đạo cơ sở nội tuyến trong bộ máy chính quyền địch, nhận và mang hết bản mẫu kê khai lên giao trả lại cho xã ; Hội đồng hương chính các xã mang lên trả cho quận. Tên quận trưởng cho lính làng mời nông dân trả khế ước lên gặp quận trưởng; ta tổ chức hơn 100 nông dân trong đó có nhiều cơ sở nòng cốt đi theo...
Tại cuộc gặp, chúng dùng các tên điềm chỉ nhìn mặt, báo cáo số cán bộ ấp, xã; ai là trung đội trưởng dân quân, cán bộ phụ nữ, thanh niên ấp, chúng bắt tách riêng và ngồi thành 2 hàng. Tên quận trưởng chỉ mặt từng người, hăm dọa, tác động và kết tội “Mấy người làm Việt Cộng chống lại Chính phủ Quốc gia”…
Trong số anh chị em nông dân được mời, có người đứng lên chỉ vào tờ khế ước nói: Đất này do công lao, xương máu nông dân chúng tôi giành lại từ tay địa chủ! Nay chính phủ Quốc gia tuyên bố cấp đất cho dân cày, tại sao mấy ông bắt chúng tôi làm khế ước, khác gì làm tờ tá cho địa chủ như hồi xưa, buộc nông dân trở lại sống kiếp tá điền! Như vậy có bất công không?
Tên quận trưởng tiếp tục hạch hỏi! Ai lãnh đạo, xúi giục các người đấu tranh chống làm khế ước?
Tự chúng tôi chống, vì quá ức hiếp, bất công, nên bà con chúng tôi nhất quyết không làm khế ước. Không có ai lãnh đạo, xúi giục chúng tôi được, cũng không ai bắt ép chúng tôi phải làm khế ước được.
Tên quận trưởng và bọn mật vụ cố tìm cách khai thác để biết người lãnh đạo đấu tranh chống làm khế ước. Chúng mời riêng từng người, vừa dụ dỗ vừa tác động để tìm ra đầu mối. Sau bảy ngày chúng cho tập trung lại, Tên Nhung tuyên bố: Tôi biết mấy người bị Việt Cộng xúi giục, nhưng tìm chưa ra; bà con không nhận làm khế ước thì thôi, cứ về đi và Hắn giận dữ, miệng nói, tay xé khế ước quăng tứ tung. Bà con nông dân phấn khởi trở về báo tin thắng lợi và chuẩn bị tinh thần cho mọi người sẵn sàng tiếp tục đấu tranh tới cùng.
Tiếp tục chống Mỹ - Diệm cướp đất, ngày 08 tháng 01 năm 1955, Ngô Đình Diệm ra chỉ dụ số 2 về “Cải cách điền địa” mà nội dung chủ yếu quy định tá điền và địa chủ phải trực tiếp ký kế ước, một bên lĩnh canh, một bên phát canh theo lịch thống nhất của chính quyền với mức độ 15% hoa lợi, với thời hạn là 3 năm cho kế ước loại A, và 3 năm cho kế ước loại B. Sau đó ngày 05 tháng 05 năm 1955, Ngô Đình Diệm lại cho ra Chỉ dụ số 7 nói về ruộng bỏ hóa, ruộng vắng chủ, trao quyền Hội hương chính đứng ra ký với tá điền cho mướn ruộng và thu tô theo kế ước cho loại ruộng vắng chủ.
Hai văn bản này là văn bản pháp lý của chính quyền Ngô Đình Diệm xóa bỏ thành tựu và quyền lợi ruộng đất mà cách mạng đã trao ruộng đất cho nông dân. Hay nói cách khác, Chỉ dụ nêu trên đã cho phép địa chủ trở về “Cải cách điền địa”, tước đoạt ruộng đất của nông dân mà cách mạng đã chia trong cuộc kháng chiến chống pháp.
Ngày 22 tháng 10 năm 1956, Ngô Đình Diệm lại ra tiếp Chỉ dụ số 57 cho phép địa chủ có quyền chiếm 100 ha ruộng đất và 15 ha ruộng hương hỏa.
Ngày 9 tháng 3 năm 1956, trong cuộc họp tá điền ở Sài Gòn, 100 đại biểu nông dân yêu sách đòi hủy bỏ chế độ đấu giá công điền, đòi tập trung công điền cấp phát cho nông dân nghèo không có ruộng, thi hành khế ước 3 năm. Cuộc đấu tranh chống đấu giá công điền đem lại thắng lợi bước đầu cho nông dân
Với 2 chỉ dụ của chính quyền Ngô Đình Diệm, đã cho phép địa chủ trở về cướp ruộng đất của nông dân. Sự bất bình của nông dân trở thành làn sóng đấu tranh mãnh liệt với bọn cướp ruộng đất
Ở huyện Cái Nước, bọn Chi khu đưa họa đồ có lính theo hộ tống, để đo đất vùng kinh Hai, Xóm Bào Rông, xã Phú Mỹ, đây là đất mà tên địa chủ Hứa Quang Chiếu (xã Chiếu) chiếm đoạt và trong thời kỳ kháng chiến chống pháp đã được Chính quyền cách mạng quản lý cấp cho nông dân. Nay kẻ thù muốn dựng sống lại tên địa chủ xã Chiếu nên buộc nông dân phải làm khế ước và truy nộp tô cho hắn. Biết rõ âm mưu thủ đoạn của địch, Chi ủy xã Phú Mỹ phân công một số cán bộ trực tiếp giáo dục xã Chiếu không được thu lúa tô của nông dân. Đồng thời ta phát động nông dân chuẩn bị đối phó khi chúng vào đo đất. Đồng chí Lê Văn Bình (Năm Hạnh) Bí thư Chi đoàn xã Phú Mỹ, cùng một số đảng viên ấp trực tiếp lãnh đạo gần 300 nông dân các ấp nói trên, kéo ra bao vây bọn họa đồ không cho chúng đo đất của nông dân. Bọn chúng ngoan cố, hăm dọa và tiếp tục kéo dây đo đất; Bà con xúm lại vây quanh bọn chúng, giựt lấy cả dây và máy ngắm đo đất. Trước khí thế áp đảo của nông dân xã Phú Mỹ, bọn họa đồ phải rút lui êm về Chi khu Cái Nước.
Tiếp theo các cuộc đấu tranh của nông dân Đầm Dơi, Cái Nước chống làm khế ước thắng lợi, nông dân các xã thuộc huyện Châu Thành, Trần Văn Thời, Thới Bình và thị xã Cà Mau đã nhất loạt đấu tranh chống lập bộ, kê khai làm khế ước. Kẻ thù đã phải chùn tay, không thực hiện được “Chính sách người cày có ruộng”. Chỉ dụ 57 của Mỹ - ngụy vừa nặn ra đem thí điểm ở Cà Mau đã bị phong trào đấu tranh của nông dân làm phá sản. Đây là thắng lợi có ý nghĩa quan trọng nhất của nông dân Cà Mau đã giữ gìn, bảo vệ được thành quả cách mạng của Đảng ta đem lại cho giai cấp nông dân, ruộng đất đã thuộc về tay dân cày nghèo trong kháng chiến chống Pháp.
Địch tăng cường đàn áp phong trào cách mạng, chúng dùng mọi cách để tiêu diệt phong trào cách mạng còn trong trứng nước; chúng liên tiếp mở những cuộc hành quân càn quét, dồn dân quy mô lớn vào các trại tập trung để thực hiện phương châm“Tát nước bắt cá” nhằm tách dân ra khỏi Đảng, để dễ bề dập tắt phong trào cách mạng miền Nam.
Ở Cà Mau Mỹ - Diệm lập những khu tập trung quy mô lớn ở Thuận Hưng, Vàm Đình, Ông Định, Nhưng Miên, Khai Quang, Biện Nhị v.v… để gom những gia đình cán bộ, những người kháng chiến cũ vào đây vừa dụ dỗ, mua chuộc, vừa khủng bố dã man để trả thù, nhằm trấn áp phong trào cách mạng.
Tháng 12 năm 1958, Mỹ - Diệm đã đầu độc giết hại dã man cùng một lúc hàng trăm cán bộ và đồng bào yêu nước ở trại giam Phú Lợi. Chúng đã bị dư luận trong và ngoài nước cực lực lên án. Vào những tháng đầu năm 1959, chính quyền Ngô Đình Diệm ra Đạo luật phát xít 10/59 đặt Cộng sản ngoài vòng pháp luật, để thẳng tay khủng bố những người kháng chiến cũ, làm cho cuộc sống của người dân ở nông thôn lại lo âu trước âm mưu sâu độc của Mỹ - Diệm.
Trước tình hình đó, Đảng ta nhận định rằng, chính sách phát xít hóa của Mỹ - Diệm đã gây khó khăn lớn cho ta, song mặt khác đó là thể hiện thế yếu của kẻ thù. Vì phi nghĩa nên chúng phải dùng chính sách phát xít hóa để thống trị; do đó, mâu thuẫn giữa Mỹ - Diệm với nhân dân miền Nam càng trở nên sâu sắc“Tức nước ắt sẽ vỡ bờ”.
Để thực hiện mục tiêu cơ bản trong thời kỳ đầu áp đặt Chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam là tiêu diệt lực lượng cách mạng miền Nam, chúng tổ chức thực hiện các chính sách “Tố cộng, diệt cộng”, lập “Khu trù mật”, “Khu dinh điền” nhằm gom dân, bắt bớ, trả thù những người yêu nước kháng chiến cũ, đàn áp phong trào đấu tranh của quần chúng. Nông dân đã vùng lên đấu tranh chống lại chính sách phản động của Mỹ - Ngụy; cuộc đấu tranh từ hợp pháp đến không hợp pháp, từ ôn hòa đến bạo lực vũ trang diệt địch và vùng lên khởi nghĩa đập tan từng mảng chính quyền cơ sở của địch, dựng lên chính quyền cách mạng.
Bọn ngụy quân, ngụy quyền tỉnh An Xuyên (Cà Mau) xúc tiến đưa quân càn quét, bắt bớ tập trung gia đình cán bộ vào các trại tập trung ở Vàm Đình, Thuận Hưng, Đầm Dơi, Dinh Điền, Rạch Ráng, Biện Nhị, Khai quang, Ông Định, Nhưng Miên, Chợ Thủ v.v…
Tại các điểm tập trung, chúng đã đưa nông dân sống trong cảnh màng trời chiếu đất, phải bỏ nhà, bỏ cửa, bỏ ruộng vườn... Hàng ngàn gia đình bị giam hãm trong các trại tập trung sống chật chội, nheo nhóc, con nhỏ bệnh hoạn không thuốc uống, gạo không đủ ăn, củi chụm không có…không chịu nổi “Cá chậu chim lồng” bà con nông dân, chị em phụ nữ kêu nghèo, kể khổ... đã liên tục đấu tranh đòi được trở về quê cũ làm ăn, sinh sống. Điển hình có sự kiện bà Lê Thị Miêu xã Tạ An Khương, tổ chức trù rủa, lên án chế độ ngụy quyền bằng cách, chặt một cây chuối trồng ngược đầu xuống đất, đốt nhan đèn kêu vang trời phật, xuống đây mà coi cái cảnh Chính phủ quốc gia hành hạ bà con chúng tôi. Nhiều bà con xung quanh xúm lại kêu nghèo, kể khổ gây dư luận xôn xao trong hàng ngũ binh sỉ, ngụy quyền; nhiều binh lính và vợ chồng họ kéo đến chứng kiến tình cảnh khổ sở của bà con, đồng tình hưởng ứng đấu tranh, phản đối lệnh tập trung dân của ngụy quyền.
Ở Tân Thuận (Đầm Dơi) một số bà con nông dân bị cưỡng bức vào trại tập trung, phải bỏ nhà cửa ra đi. Ông Thình (thường gọi là bếp Thình) ở Tân Thuận, đầu quấn khăn tang, đội lư hương cùng với hàng chục người kéo đi đấu tranh trực diện với địch. Ông vừa đi, vừa khóc kể rằng: Cha mẹ tôi chết cũng không được yên thân. Chính phủ quốc gia buộc tôi phải đội bàn thờ lên quận ở, bỏ cả mồ mả, ruộng vườn, nhà cửa, kêu không thấu trời. Thấy đoàn người đội lư hương, bà con ở thị trấn, có cả vợ con binh sỉ ùn ùn chạy ra đường, đông nghẹt phố chợ, bày tỏ sự thông cảm và đồng tình hưởng ứng, làm tăng thêm sức mạnh đấu tranh của quần chúng.
Qua nhiều ngày đấu tranh liên tục, bà con đã tranh thủ, làm phân hóa hàng ngũ binh tề ngụy; nhiều binh sĩ phản đối bọn chỉ huy, mặc nhiên không chấp hành lệnh đàn áp, mà còn an ủi động viên chị em, cô bác hãy bỏ khu tập trung trở về quê sinh sống. Trước sức mạnh đấu tranh của bà con đầy tình lý có sức thuyết phục, được dư luận ủng hộ rộng rãi, tranh thủ được nhiều binh lính, sĩ quan, công chức ngụy quyền đồng tình đứng về phía nhân dân phản đối lệnh qui khu; chỉ trong một thời gian ngắn lần lượt hàng trăm gia đình nông dân đều trở về quê cũ. Với nhiều hình thức đấu tranh Nông dân Cà Mau đã vùng lên quyết liệt, đã làm vô hiệu chính sách tập trung dân vào các khu dinh điền, khu trù mật của địch ở nhiều nơi trong tỉnh.
Bộ máy ngụy quân, ngụy quyền trong tỉnh, ngày càng tăng cường khủng bố đàn áp nhân dân, bắt cóc ám sát cán bộ, chúng nêu phương châm “Thà giết oan còn hơn thả lầm”; chúng ra lệnh nhà nhà đều phải viết khẩu hiệu “Nhà tôi không chứa Việt Cộng”, “Xuồng tôi không chở Việt Cộng” v.v… Đối với hộ gia đình, chúng cho làm bảng số nhà với 3 màu (Đỏ, đen, vàng), để chúng kiểm soát chặt chẽ và phân biệt đối xử (bảng màu đỏ là gia đình thân quốc gia; bảng màu đen là gia đình thân cộng; bảng màu vàng gia đình lưng chừng). Chúng buộc mỗi nhà đều phải sắm sẵn đèn, dây, cây roi và mõ; khi thấy Việt Cộng vào xóm ấp, phải đánh mõ báo động và phải tập trung vây bắt. Có trường hợp cán bộ bị rượt đuổi chạy núp vào nhà cha mẹ, cha mẹ vừa chỉ đường cho con chạy trốn, và chỉ kịp dúi cho con nắm cơm, chiếc áo, tay thì phải đánh mõ “báo động”. Sự khủng bố điên cuồng của địch đã gây bao cảnh đau lòng, cha mẹ không dám nhìn con lúc sa vào tay giặc, anh em không dám nhìn nhau, dân không dám tiếp xúc cán bộ công khai vì sợ xóm giềng để ý; những gia đình cơ sở nuôi chứa cán bộ trong nhà trước đây, giờ cũng dùng lời từ chối khéo “các con tới lui thường quá nên kỷ lưỡng, sợ tai mắt địch kề cận theo dõi, lỡ có bề gì gia đình của “Qua” sẽ bị tan nát”; từ đó, chỉ còn một số gia đình chí cốt mới dám đào hầm bí mật nuôi chứa cán bộ Cộng sản trong nhà.
Trong mỗi lần đột kích, địch lợi dụng để cướp giựt tài sản của dân, vu khống cho Việt Cộng. Để chống địch biệt kích bắt bớ cán bộ, cướp bóc tài sản theo kiểu “Vừa ăn cướp, vừa la làng”. Ta lấy cớ chống cướp, tổ chức cho bà con nông dân đánh trống mõ, la ó có ăn cướp, mỗi khi phát hiện địch vào xóm, ấp ban đêm, tổ chức cho người dân cùng đồng hè rượt đuổi chúng, bao vây làm áp lực, buộc chúng phải thả những người mà chúng bắt được. Một hôm bọn biệt kích từ Rạch Ráng vào kinh Quản Hảo, hơn 200 nông dân các ấp đốt đuốc, nổi trống mõ, bao vây chúng. Túng thế toán biệt kích địch phải thú nhận: “Chúng tôi là lính quốc gia, không phải cướp”.
Ở ấp Kiểu Mẫu, xã Khánh Bình Đông, khi bọn lính đồn Rạch Cui vào xóm Rình Rập, cả xóm đồng thanh la lớn “Có Việt Cộng” rồi đánh trống mõ, vác gậy gộc rượt chúng. Địch lúng túng vừa chạy vừa thú nhận là lính đồn; bà con nông dân giả vờ không tin, đuổi miết theo. Sáng hôm sau, chúng tức tối kéo vào xóm bắt một số người về đồn Rạch Cui hù dọa. Bà con đấu lý với chúng: Chính quyền bảo dân thấy Việt Cộng vào xóm ấp phải đánh trống mõ, vây bắt; ai không tuân lệnh phải bị trừng trị. Còn mấy ông nói lính quốc gia bảo vệ tính mạng, tài sản cho dân, sao không đi ban ngày, ban mặt mà phải núp ló ban đêm. Muốn đi vào xóm ấp ban đêm sao không cho chủ ấp chúng tôi hay trước thì có đâu gây ra cớ sự này. Chúng đuối lý, rất bực tức, nhưng đành phải thả hết mọi người ra về. Từ đó, chúng biệt kích vào xóm ấp nào đều thông báo cho liên gia, chủ ấp biết, và ta có cơ sở nội tuyến trong bộ máy tề ở xã, ấp nên khi được tin địch biệt kích, ta đã có kế hoạch chủ động đối phó, tránh được nhiều tổn thất.
Trên địa bàn xã Phú Mỹ từ ấp Xẻo Đước đến ấp Mỹ Thành, ấp Rạch láng, ấp Giáp Nước… là nơi căn cứ của Tỉnh ủy Cà Mau, các cơ quan Nông dân tỉnh, Phụ nữ tỉnh, Ban Tuyên huấn Tỉnh ủy Cà Mau, cơ quan Giao bưu tỉnh và cơ quan Thường trực Huyện ủy Cái Nước… Từ những năm đen tối (khi luật 10/59 của chế độ độc tài gia đình trị Ngô Đình Diệm ra đời) đến những năm sau Đồng Khởi, các cơ quan Đảng, Chính quyền, Mặt trận và các Đoàn thể cách mạng đều tồn tại trong dân. Hàng vạn gia đình cán bộ, hội viên, nông dân trong tỉnh bất chấp nguy hiểm sẵn sàng nuôi chứa, bảo vệ cán bộ an toàn, vượt qua thời kỳ khó khăn ác liệt nhất cho đến ngày giải phóng hoàn toàn.
Phong trào đấu tranh của tín đồ Cao đài Minh Chơn Đạo ở Tòa Thánh Ngọc Sắc; những tín đồ xuất thân từ nông dân mà ra có nhiệt tình yêu nước, mến đạo; cho nên khi địch phá Thánh Thất bà con nông dân trong bổn đạo tổ chức đấu tranh quyết liệt với bọn địch tại chùa Ngọc Sắc.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Thánh Thất Ngọc Sắc phối hợp với Hội Thánh Hậu Giang huy động hàng trăm lượt tín đồ mang đơn từ kiến nghị lên huyện, tỉnh và lên tận Sài Gòn trực tiếp gặp Ngô Đình Diệm và Ủy hội Quốc tế tố cáo tội ác của giặc, đòi thả số người bị bắt, đòi bồi thường nhân mạng, làm chấn động dư luận trong các tôn giáo và nhân dân đô thị. Đồng bào lương giáo bền bỉ đấu tranh liên tục suốt 300 ngày, diễn ra hàng 100 cuộc đấu tranh trực diện với các cấp của ngụy quyền mới giành được thắng lợi. Ngô Đình Diệm buộc phải chấp nhận yêu sách, trả tự do cho 31 người nông dân lương thiện.
Cao đài Minh Chơn Đạo là giáo phái yêu nước, các tín đồ cũng xuất thân từ nông dân lao động, từng chịu cảnh áp bức bóc lột của chế độ thực dân phong kiến đã có ý thức căm thù sâu sắc. Được Đảng giáo dục, trải qua 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ; nhiều chức sắc, tín đồ đã tham gia đấu tranh giành độc lập dân tộc và bảo vệ đạo, nhiều người đã trở thành cán bộ xuất sắc của Đảng, của nhân dân đạt được lòng tin tuyệt đối của tín đồ như: Chưởng Quản, tức “Anh Lớn” Ngô Tâm Đạo, Tỉnh ủy viên - Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh. Nhiều lần đấu tranh diễn ra tại chùa Ngọc Sắc, nhân dân trong ấp cùng họ đạo kéo đến ủng hộ sự đấu tranh của chức sắc, tín đồ.
Tháng 7 năm 1956, Tỉnh ủy chủ trương phát động một đợt đấu tranh chính trị rộng khắp trong toàn tỉnh, bố trí lực lượng Đảng viên, Đoàn viên hợp pháp làm nòng cốt. Đoàn biểu tình tuần hành kéo đến dinh tỉnh trưởng, quận trưởng đưa yêu sách đòi thi hành hiệp định Gieneve, đòi chính quyền đối phương không được trả thù những người kháng chiến cũ, không khủng bố giết người vô tội
Các huyện Trần Văn Thời, Thới Bình, Cái Nước, Ngọc Hiển… đã huy động trên hàng ngàn nông dân kéo ra thị xã Cà Mau, tiến thẳng đến dinh tỉnh trưởng đưa yêu sách đòi hiệp thương tổng tuyển cử thống nhứt đất nước. Địch vây bắt lực lượng đấu tranh đưa lên xe chở vào sân bay giam giữ. Tại đây lực lượng đấu tranh càng siết chặt đội ngũ, ra sức vận động, tranh thủ được nhiều anh em binh sĩ, cảnh sát ngụy, vạch trần bộ mặt phi nghĩa hiếu chiến của Mỹ - Diệm. Cuộc đấu tranh kéo dài suốt 15 ngày, địch tỏ ra bất lực không thể duy trì sự khủng bố, không làm lay chuyển tinh thần của những người đi đấu tranh, chúng buộc phải thả hết những người bị bắt.
Đêm 25/10, lực lượng mật trong nội ô thị xã Cà Mau treo băng cờ, dán truyền đơn áp phích, thả bè trên sông mang khẩu hiệu đả đảo Mỹ - Diệm. Cuộc mít-tinh mừng ngày quốc khánh của Diệm, biến thành cuộc biểu tình của nhân dân tố cáo tội ác của chúng và phản đối Mỹ - Ngụy phá hoại hòa bình. Tên tỉnh trưởng An Xuyên tức tốc báo cáo lên thượng cấp của hắn “Nông dân các vùng nông thôn do Việt Cộng xúi giục nổi loạn”. Đây là cuốc đấu tranh rất mạnh mẽ của các tầng lớp nhân dân, trong đó đa số là lực lượng nông dân.
Để uy hiếp, trấn áp tinh thần đồng bào đô thị, địch thúc ép đông đảo bà con đến dự cuộc hành huyết đồng chí Ba Bần là cán bộ cách mạng, bám trụ hoạt động ở thị xã Cà Mau. Thị ủy chỉ đạo các cơ sở huy động hàng ngàn quần chúng đến xem buổi xử án tại trung tâm nội ô. Không để chúng hành hình, đồng chí Ba Bần lấy dao bào tự rạch bụng mình, máu tuôn xối xả rồi dõng dạc nói thẳng vào mặt kẻ thù “Tao là chiến sỹ cách mạng chiến đấu cho chính nghĩa. Tao không có tội, đừng đem máy chém ra hù dọa vô ích”,“Đả đảo Mỹ - Diệm”, “Hồ Chủ tịch muôn năm!”. Quần chúng ùng ùng đứng lên đả đảo chế độ khát máu Ngô Đình Diệm. Trước sự phản ứng mạng mẽ và bất ngờ của đồng chí Ba Bần và sự phẫn nộ cao độ của các từng lớp nhân dân, kẻ thù bị phân hóa! chúng hoản sợ giải tán ngay cuộc hànhquyết.
Ngày 26 tháng 10 năm 1958, địch tổ chức mít-tinh mừng ngày quốc khánh của chúng. Các Đảng bộ địa phương đã huy động hàng vạn quần chúng nông dân lao động, chị em phụ nữ biểu tình bao vây đồn bót, hạ cột cờ ba que, đập phá trụ sở Hội đồng Hương chính xã, làm cho ngày “Quốc lễ” nhục nhã.
Hòa nhịp với phong trào chung, phong trào hoạt động trong nội thành của nông dân ngày càng được tăng cường và phát triển cơ sở trong nội ô. Thị xã Cà Mau, các đồng chí Đồng Thị Sinh (Tư Phượng), Phạm Thu Ba (Út Bến Hải), chị Năm Nghĩa, Tám Nhàn… cùng một số đồng chí khác được bố trí hoạt động hợp pháp, gây dựng cơ sở cách mạng trong nội ô thị xã, được dân che chở, bảo vệ đi lại hoạt động an toàn.
IV. XÂY DỰNG LÀNG RỪNG TIẾN LÊN ĐỒNG KHỞI
Mỹ - Diệm ngày càng phát xít hóa bộ máy ngụy quân, ngụy quyền, đưa cuộc sống người dân sống cảnh màn trời chiếu đất. Ở Cà Mau, Mỹ - Diệm tiến hành thành lập các tổ chức chính trị phản động và sử dụng các tổ chức này chống phá phong trào cách mạng trong tỉnh, chúng tổ chức, xây dựng Phong trào cách mạng quốc gia, Bảo vệ hương thôn, Phụ nữ Liên Đới. Để nắm chặt lực lượng các tổ chức do chúng lập ra, chúng dùng thủ đoạn vừa lừa mị, dụ dỗ, vừa mua chuộc, vừa cưỡng bức, khống chế, vừa khủng bố. Địch sử dụng và huy động lực lượng “Bảo vệ hương thôn” phối hợp với bảo an, thủy quân lục chiến, tổ chức càn quét đánh phá vùng căn cứ kháng chiến, vây ráp bắt bớ cán bộ. Có những cuộc càn quy mô từ 5.000 - 6.000 bảo vệ hương thôn, có lính bảo an, chủ lực đi kèm, càn quét những khu rừng chồi, để tìm diệt căn cứ cách mạng.
Để đánh vào tinh thần của nông dân ta theo cách mạng, Mỹ - Ngụy lê máy chém đi khắp nơi, thẳng tay khủng bố, tàn sát dã man: Chặt đầu, mổ bụng “Tế cờ”(1) lùa dân đến xem những vụ giết người rùng rợn để uy hiếp tinh thần. Chúng đưa máy chém xuống Cái Nước, chặt đầu một lúc hai người: Anh Lược và anh Chẳn, chúng tình nghi là cơ sở nội tuyến. Ở Tân Hòa, chúng bắt người con trai ra hành quyết, đập đầu đến chết trước mặt cha mẹ của anh. Tại Sông Đốc, tên quận Bảy cho lính và bảo vệ hương thôn trong vòng một tháng đập đầu giết chết gần 200 cán bộ và dân lương thiện. Có vụ khủng bố điển hình vào tháng 11 năm 1959, địch trói từng chùm 3 người rồi cột đá vào chân, tất cả 24 người, xô một lượt xuống biển. Ở Bàu Hang (Đầm Dơi), địch dùng cột chèo đập chết 1 lúc nhiều người, lột hết quần áo rồi chôn xác chung một hầm… Những hành động đó mục đích chúng vừa để dập tắt phong trào cách mạng, vừa để tác động những gia đình nông dân nuôi chứa cán bộ. Vì thế xóm ấp nào cũng có hàng chục người bị tra tấn, bị giết chết hay tù đày, cảnh chết chóc đè nặng lên xóm làng. Nhiều xóm ấp không còn nghe tiếng chó sủa, gà gáy, cảnh sống của người dân trong cảnh thôi thốp, lo âu...
Không thể sống dưới ách kềm kẹp, thống trị của Mỹ - Diệm, nhiều gia đình cán bộ bất hợp pháp, thanh niên trong độ tuổi đi quân dịch đã lần lượt dắt dìu nhau vào rừng ẩn náu. Lúc đầu những nam, nữ thanh niên nông dân bất hợp tác với địch, dựa vào rừng chồi, vườn hoang, bờ đìa có địa thế thuận lợi, đào hầm bí mật tránh né các cuộc vây ráp của địch. Ban đêm họ phải ngủ nóp, dùng ni-lon hoặc lá chầm che mưa, che nắng. Từ rừng tràm U Minh đến rừng đước Năm Căn nơi nào cũng có một số gia đình bất hợp tác với địch sống len lỏi, vất vả nhưng được gần gủi với Đảng ai cũng thấy ấm lòng.
Dần dần lực lượng bất hợp pháp càng nhiều, họ phải lấn sâu vào rừng cất cứ, dựng chòi, làm nhà. Trước tình hình đó, để bảo tồn, tích lũy lực lượng, xây dựng và phát triển thực lực cách mạng, Tỉnh ủy chủ trương xây dựng Làng Rừng ở U Minh, thuộc các huyện Thới Bình, Trần Văn Thời, ở Chi khu rừng đước Ngọc Hiển (Duyên Hải), Đầm Dơi, Cái Nước… Những làng rừng nông dân ở rất nhiều tạo nên căn cứ vững chắc cho Đảng và phong trào cách mạng; đây cũng là nét đặc thù của chiến tranh nhân dân của vùng đất mũi Cà Mau.
Cuộc sống ở làng rừng ngày càng phát triển, có nội dung sinh hoạt, học tập, ăn ở và bảo vệ, giao công việc cụ thể hợp khả năng từng người. Mọi người thương yêu, gắn bó, đùm bọc lẫn nhau như ruột thịt; họ cùng ăn, cùng ở, cùng làm vì lợi ích của cộng đồng để tồn tại và chiến thắng kẻ thù.
Những người nông dân trong làng rừng, chia nhau lo công việc lao động cải thiện đời sống và vận động bà con giúp đỡ, ủng hộ lương thực, thực phẩm tải về chia sớt cho mỗi gia đình, ưu tiên cho người già, trẻ em, người bệnh tật. Nam, nữ thanh niên nông dân tráng kiện tham gia du kích, dân quân tự vệ, tập quân sự, phân công canh phòng bảo vệ căn cứ. Từng lúc lực lượng trong làng rừng phối hợp với lực lượng bên ngoài hoạt động vũ trang tuyên truyền diệt ác, phá kềm, hỗ trợ phong trào quần chúng nổi dậy bên ngoài (xóm, ấp) để giành quyền làm chủ nông thôn.
Kẻ thù đã bị thất bại trong chính sách thực dân kiểu mới cổ điển là thống trị mà không phải dùng đến chiến tranh. Thể hiện sự thất bại đó là việc chúng chuyển sang chính sách phát xít hóa nhằm cứu vãn sự phá sản của kế hoạch Ai-Xen-Hao. Từ năm 1958 - 1959, Mỹ - Diệm đã tăng cường sự đàn áp khủng bố đến điên cuồng, bằng cách tiến hành một cuộc “Chiến tranh đơn phương” để chống lại đồng bào miền Nam trong tay không có vũ khí, với những cuộc hành quân càn quét liên miên, dồn dân vào các trại tập trung. Chúng mở nhiều chiến dịch “Tố Cộng”, “Diệt Cộng”, những cuộc “Tế Cờ” vừa sát hại cán bộ cách mạng bằng bạo lực, vừa tăng cường chiến tranh tâm lý, chiêu dụ, chiêu hàng. Cán bộ, đảng viên bị giết hại, bị bắt bớ, tù đày; có một số đảng viên bị phân hóa, hoang mang, đầu hàng, đầu thú; một số cơ sở Đảng bị phá vỡ. Nhiều nơi bà con nông dân gặp cán bộ khóc lóc, đòi cho họ “Mạng đổi mạng” với kẻ thù, có nghĩa là nhân dân đòi đánh địch bằng bạo lực vũ trang.
Để giữ vững ruộng đất cho nông dân, ngay trong Luận Cương của Đảng ta đã khẳng định: Nhiệm vụ cách mạng Việt Nam là phải đánh đổ đế quốc, phong kiến làm cho Việt Nam độc lập và làm cánh mạng ruộng đất, thực hiện khẩu hiệu “Người cày có ruộng”. Để đánh bại âm mưu “Cải cách điền địa” của Mỹ - Diệm; bảo vệ quyền làm chủ ruộng đất của nông dân ngày càng trở nên khốc liệt hơn. Tỉnh ủy chủ trương: Cán bộ, đảng viên phải kiên trì bám trụ, phát động quần chúng, tạo thế đứng chân vững chắc trong dân, cụ thể là nông dân, ta luôn nắm vững mục tiêu trước mắt, kiên trì phát động quần chúng đấu tranh chính trị, giữ gìn lực lượng, đi đôi với việc đẩy mạnh xây dựng cơ sở chính trị đòi ruộng đất cho nông dân. Dựa vào dân và được dân hết lòng che chở, bảo vệ, cơ sở cách mạng được duy trì, lực lượng từng bước được củng cố, phát triển, chuẩn bị khả năng đưa cách mạng chuyển sang thời kỳ đấu tranh mới với phương thức mới. Bám dân cùng dân xây dựng và đấu tranh cách mạng, củng cố lòng tin Dân với Đảng, đã tạo niềm tin mạnh mẽ cho dân khi đối mặt đấu tranh với kẻ thù.
Cách mạng Miền Nam đang trong giai đoạn khó khăn nhất, Nghị quyết 15 của Đảng ra đời chỉ ra con đường phát triển của cách mạng miền Nam là kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang. Nghị quyết 15 đã thực sự đáp ứng yêu cầu của cách mạng và lòng khát khao mong đợi của nhân dân ta từ lâu.
Sau hội nghị triển khai học tập, quán triệt Nghị quyết 15 (do đồng chí Vũ Đình Liệu chủ trì). Tỉnh ủy Cà Mau chỉ thị các cấp nhanh chóng củng cố cơ sở Đảng, xây dựng lực lượng vũ trang, phát động quần chúng đứng lên dùng bạo lực cách mạng tiến công địch bằng chính trị và binh vận, kết hợp vũ trang diệt ác, phá tề, hỗ trợ phong trào quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ. Tỉnh ủy Cà Mau chỉ thị các huyện, xã chuẩn bị ráo riết cho cuộc Đồng Khởi, chỉ đạo khởi nghĩa ở nông thôn. Khí thế đồng khởi sôi sục khắp nông thôn trong toàn tỉnh, lan rộng ra nhiều vùng ven thị xã, thị trấn. Đặc biệt lực lượng vũ trang kết hợp lực lượng nổi dậy của nông dân ở nông thôn, nhất là các nơi có Làng Rừng đã làm nòng cốt, là mũi nhọn cho phong trào đồng khởi.
Cuối tháng 10 năm 1959, đồng chí Nguyễn Văn Đáng (Tư Huờn), Bí thư Huyện ủy Trần Văn Thời (Mười Tế) trực tiếp chỉ đạo tổ chức cuộc mít tinh tại chợ Rạch Cui phát động quần chúng nổi dậy Đồng Khởi. Cả ngàn nông dân các ấp lân cận tập trung dự míttinh tại ngã 4 phố Rạch Cui. Đồng chí Nguyễn Văn Đáng đọc lời Hiệu triệu của Tỉnh ủy kêu gọi nhân dân đứng lên Đồng Khởi đập tan bộ máy ngụy quân, ngụy quyền ở cơ sở, giành quyền làm chủ toàn bộ nông thôn trong tỉnh. Đại diện lực lượng vũ trang, tiểu đoàn Đinh Tiên Hoàng lấy danh nghĩa “Giáo phái” kêu gọi nhân dân, nhất là thanh niên hãy tham gia xây dựng lực lượng vũ trang, lực lượng tự vệ hỗ trợ quần chúng nổi dậy diệt ác, phá kềm giành quyền làm chủ. Kết thúc cuộc mít tinh trọng thể này là cái mốc lịch sử là Đảng bộ và quân dân huyện Trần Văn Thời đồng tâm nhứt trí thực hiện hiệu triệu của Tỉnh ủy, vùng lên làm cuộc Đồng Khởi.
Tiếp sau đó, tại xã Khánh Hưng, huyện Trần Văn Thời, đồng chí Trần Hữu Vịnh (Hai Thống) Bí thư Chi ủy xã, chủ trì cuộc mít tinh được tổ chức tại ấp Nhà Máy, phát động nông dân nổi dậy diệt ác, phá tề, giành quyền làm chủ ở nông thôn. Các ấp tập hợp lực lượng xếp thành đội ngũ chỉnh tề từ các ngã biểu tình tuần hành tới địa điểm dự mít tinh. Những tên tề ấp, tề xã, Liên gia trưởng, chi trưởng “Phong trào cách mạng quốc gia”, Liên toán trưởng “Bảo vệ hương thôn” được “mời” gom lại và công bố tội lỗi trước dân. Đồng chí Trần Hữu Vịnh thay mặt Đảng và Chính quyền cách mạng địa phương tuyên bố giải tán bộ máy ngụy quân, ngụy quyền của địch ở xã, ấp và công bố kể từ nay chính quyền tự quản của nhân dân được thiết lập dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Tại huyện Cái Nước, đồng chí Nguyễn Mai Ân (Sáu Vui) trực tiếp chỉ huy đánh “hóa trang kỳ tập” kết hợp với nội tuyến tiêu diệt gọn một Trung đội dân vệ đóng đồn ở Chà Là, ta thu 24 súng các loại. Trận chiến diễn ra nhanh gọn, nội tuyến Trần Thiện Tuấn, đoàn viên thanh niên lao động dũng cảm hy sinh trong trận địa. Các đồng chí nội tuyến còn lại như: Hai Đen, Hai Trắng, Năm Diên trở về làm nòng cốt phát triển lực lượng vũ trang của huyện, hỗ trợ phong trào Đồng khởi, giải phóng nông thôn, giải phóng nông dân.
Vào chiều ngày 15/3/1960 tại đập Giáp Nước, xã Phú Mỹ. Lực lượng cán bộ và vũ trang tự vệ từ căn cứ Mũi Ông Lục chia làm 2 cánh, trương băng, cờ kéo công khai từ khâu bè di vào “mời” gom hết số liên gia của địch, chủ ấp của ngụy vào dự cuộc mít tinh tại đập Giáp Nước. Một cánh khác kéo ra kinh Hai, Bờ Đìa “mời” gom hết số liên gia, chi trưởng “Phong trào cách mạng quốc gia”, liên toán trưởng, bảo vệ hương thôn để công khai tội lỗi trước nhân dân. Trên 500 nông dân và đồng bào các giới tham dự cuộc mít-tinh; gương mặt mọi người đều rạng rỡ, tay bắt mặt mừng, chào đón những “Cán bộ Việt Cộng nằm vùng” từ bấy lâu nay luôn bị kẻ thù săn đuổi, truy lùng, tìm diệt.
Đồng chí Nguyễn Mai Ân, thay mặt Huyện ủy Cái Nước, những người kháng chiến cũ, phát biểu trước đồng bào “… Mỹ - Diệm từng rêu rao tuyên bố sẽ “Bình định miền Nam trong vòng 18 tháng”, “Quyết tâm tiêu trừ cho đến tên Cộng sản cuối cùng”… Hôm nay, chúng tôi là những người Cộng sản “Bằng xương bằng thịt” trở về đây cùng với đồng bào thực hiện lời kêu gọi của Tỉnh ủy Cà Mau tiến hành cuộc Đồng khởi, đập tan chính quyền Mỹ - ngụy ở xã ấp, giải phóng nông thôn, xây dựng chính quyền cách mạng thực hiện khẩu hiệu: Nhân dân làm chủ nông thôn! nông dân làm chủ ruộng đất! tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam. Vùng giải phóng của ta được hình thành và mở rộng; để giữ vững vùng giải phóng, nhiệm vụ chính là phải cấp bách giải quyết ruộng đất cho nông dân.
Dựa vào chính sách nông thôn của cách mạng miền Nam và chương trình hành động của Mặt trận, Hội Nông dân giải phóng là phát động nông dân vùng lên đấu tranh bảo vệ ruộng đất của mình, tạo thành làn sóng mạnh mẽ trong các tầng lớp nhân dân, nhất là trong quần chúng nông dân.
Trong những ngày Đồng khởi, người dân đã đoàn kết rủ nhau đi dự mít tinh xuống đường rầm rộ tiếng hô khẩu hiệu vang dậy. Mọi người đều phấn khởi, hả dạ, hả lòng trước không khí Đồng khởi giải phóng nông thôn, giải phóng nông dân. Nhiều gia đình có chồng con em đi lính hay làm công chức cho bộ máy ngụy quân, ngụy quyền tay sai Mỹ, con em nông dân bị cưỡng bức vào lực lượng “bảo vệ hương thôn”, được các tổ chức Đoàn thể cách mạng tuyên truyền giáo dục, lôi kéo về lực lượng cách mạng; ta đã làm phân hóa ngay trong nội bộ địch, với cách “dùng gậy ông đập lưng ông”, tạo điều kiện hỗ trợ cho nông dân vùng lên giải phóng nông thôn ở từng địa bàn.
Hiệu triệu Đồng khởi của Tỉnh ủy, là mệnh lệnh sống còn giục giã toàn thể nhân dân trong tỉnh nhứt tề xông lên, góp phần cùng quân, dân miền Nam đập tan chế độ độc tài phát xít Ngô Đình Diệm, từng bước tiến tới giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Thực hiện chỉ thị của Đảng, hàng ngàn nông dân các ấp Ba Tiệm, Mỹ Bình, ấp Bào Chấu cùng nhiều nơi khác trong huyện đã nổi dậy giải tán tề và tổ chức “Bảo vệ hương thôn”, giành quyền làm chủ, thành lập chính quyền tự quản ở nông thôn. Tiếp theo đó hàng vạn đồng bào các xã Tân Thành, An Xuyên, Hòa Thành, Định Thành, Thạnh phú, Tân Lộc, Trí Phải, Khánh Lâm, Khánh Hưng, Trần Hợi, Khánh Bình v.v… xuống đường cùng với du kích và lực lượng vũ trang huyện, tỉnh bắt những tên tề ấp, tề xã gian ác xét xử công khai, tuyên bố giải tán chính quyền cơ sở của địch; đồng thời vận động, tranh thủ một số đơn vị và cá nhân binh sĩ địch khởi nghĩa mang súng trở về với nhân dân.
Thắng lợi của phong trào Đồng khởi ở Cà Mau lan rộng khắp các huyện: Cái Nước, Trần Văn Thời, Ngọc Hiển, Thới Bình v.v… đã phá rã nhiều khu tập trung, trừng trị nhiều tên Công an thám báo ác ôn, giải tán bộ máy tề điệp và tổ chức chính trị phản động ở từng địa phương. Ta đã giải phóng nhiều vùng nông thôn rộng lớn nối liền từ ven biển Sông Đốc, Đất Mũi đến Đầm Dơi, Cái Nước, Thới Bình và các vùng đồng bằng Châu Thành, Giá Rai … Chính quyền cách mạng được thành lập ở các xã giải phóng; lực lượng vũ trang và các đoàn thể quần chúng nhanh chóng được củng cố và phát triển.
Đồng khởi ở Cà Mau thắng lợi đã góp phần vào thắng lợi chung của quân dân miền Nam, làm lung lay chế độ cai trị của ngụy quyền Sài Gòn, làm phá sản “Chiến tranh đơn phuơng” của Mỹ - Ngụy. Mở ra vùng giải phóng trên phạm vi rộng lớn, tạo điều kiện thuận lợi Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời.(1)
(1) Ngày 23/10/1954: Tổng thống Mỹ Eisenhower tuyên bố trực tiếp viện trợ cho chính phủ Diệm. Tháng 12/1954 Cô- Lin và Tướng Eâ-Ly của Pháp ký hiệp định trao quyền huấn luyện, tổ chức quân đội Nam Việt Nam cho bộ quốc phòng Mỹ- Mỹ thay thế từ đó.
Lat-đin-sky: trưởng đoàn cố vấn mỹ về cải cách điền địa ở miền nam cho rằng: “Sở dĩ việt minh kiểm soát được nông thôn bởi vì họ không những kêu gọi nông dân đánh pháp, mà họ còn đề cập đến vấn đề ruộng Đất. Hiện nay sự đe dọa của Cộng sản ở nông thôn là có thật, và thế lực chánh trị của Cộng sản chỉ có thể hủy hoại bằng thu hẹp khoảng cách giữa địa chủ và tá điền”. Mỹ-Diệm cải cách điền địa từ năm 1955 đến năm 1962 thì kết thúc-dụ số 2 (ngày 9/1/1955) dụ số 7 (ngày 3/2/1955) với nội dung tá điền chỉ nộp tô từ 15 đến 25 phần trăm hoa lợi cho chủ điền (trước kia 40 đến 50 phần trăm) đồng thời tá điền còn được chánh quyền Diệm giao cho các ruộng hoang để canh tác, miễn hoặc đóng tô nhẹ. Tiếp theo chỉ dụ số 57 (22/10/1956) quy định quyền truất hữu ruộng đất của Diệm đối với các chủ điền chiếm hữu trên 100 mẫu tây ruộng lúa…nhưng tất cả những gì Mỹ – Diệm làm cũng chỉ là mưu đồ cướp nước và bán nước, nên dân ta vẫn bền lòng theo Đảng và chống lại chúng.
CHƯƠNG V
NÔNG DÂN CÀ MAU ĐẤU TRANH GIỮ GÌN RUỘNG ĐẤT,
ĐÁNH ĐỊCH BẢO VỆ QUÊ HƯƠNG (1961 - 1968)
1. PHÁT TRIỂN THẾ TIẾN CÔNG, QUYẾT TÂM BẢO VỆ QUÊ HƯƠNG
Thất bại kiểu “Chiến tranh đơn phương”, đế quốc Mỹ đã lâm vào thế bị động, buộc phải chuyển sang chiến lược “Chiến tranh Đặc biệt”. Chúng tăng cường lực lượng ngụy quân và khả năng cơ động, với các phương tiện chiến tranh hiện đại do Mỹ trực tiếp chỉ huy và đẩy mạnh quốc sách “Ấp chiến lược” nhằm dồn dân trên quy mô toàn miền. Với hai thủ đoạn đó, chúng hy vọng sẽ dễ dàng tiêu diệt cách mạng miền Nam.
Nhận định tình hình, phân tích so sánh lực lượng giữa ta và địch ở miền Nam sau Đồng khởi. Đảng ta chủ trương, tiếp tục giữ vững tư tưởng chiến lược tiến công, đưa đấu tranh vũ trang phát triển lên song song với đấu tranh chính trị; tiến công địch trên cả 3 vùng chiến lược là: Đô thị, nông thôn đồng bằng và nông thôn rừng núi; thực hiện phương châm đánh địch bằng 3 mũi giáp công là: Quân sự, chính trị và binh vận.
Trên địa bàn tỉnh Cà Mau, trước Đồng khởi, được sự chỉ đạo trực tiếp của Khu ủy miền Tây, Tỉnh ủy đã thành lập 2 tiểu đoàn lấy tên Đinh Tiên Hoàng và Ngô Văn Sở(1); cán bộ, chiến sĩ hai tiểu đoàn số đông xuất thân từ nông dân. Các hầm vũ khí chôn giấu lúc chuyển quân tập kết ra Bắc được đào lên, được lau chùi sạch sẽ, trang bị cho 2 tiểu đoàn và lực lượng du kích trên 2.000 khẩu súng các loại, cùng nhiều đạn dược.
Ngày 11 tháng 11 năm 1959, Tiểu đoàn Ngô Văn Sở ra quân trận đầu tiên chiến thắng vang dội ở Bến Dựa. Các chiến sĩ ta chặn đánh, đã tiêu diệt 1 tàu chở đầy lính thuộc tiểu đoàn “Bác Ái” “con cưng” của Ngô Đình Diệm, giết chết và bắt sống trên 100 tên, thu 120 súng các loại (đây là trận đánh ta tiêu diệt và bắt sống số lượng đông nhất từ sau Đồng khởi), đồng thời đã bẻ gãy kế hoạch đi tuyên truyền lừa mị dân mà tiểu đoàn “Bác Ái” thực hiện. Chiến thắng này làm cho người dân Cà Mau nói chung, nông dân nói riêng rất phấn khởi, tạo được khí thế cách mạng Đồng khởi.
Sau ngày Đồng khởi, nhiều xã đã tổ chức các Đội vũ trang tuyên truyền, thành lập đội du kích xã, phát triển nhiều trung đội Dân quân tự vệ, lập công trường sản xuất và sửa chữa súng, xạc đạn, làm chông và đạp lôi phục vụ chiến đấu chống càn quét lấn chiếm, bảo vệ vùng giải phóng.
Ở Khánh Bình (huyện Trần Văn Thời), hàng ngàn nông dân chia thành 4 hướng, nổi trống mõ kéo ra bao vây Đồn Cả giữa. Từ 4 phía tiếng trống mõ, tiếng hô khẩu hiệu vang trời - từng chập, nông dân dùng khí đá (bỏ vô ống chúm) đốt gây tiếng nổ thay tiếng pháo công đồn, áp đảo làm cho địch rất hoang mang. Cuối cùng địch cử 1 tên cầm đèn măng - xông leo ra trước cửa đồn lên tiếng năn nỉ: “Bà con muốn gì thì nói, để chúng tôi thi hành chớ đừng bắt giết chúng tôi”.
Các xã: Khánh An, Khánh Lâm, Khánh Bình Đông, Khánh Bình Tây, Phong Lạc… bà con nông dân đồng loạt xuống đường, tiến công 3 mũi tiêu diệt một số đồn bót, xét tử hình công khai một số tên ác ôn, giáo dục thả tại chổ nhiều tên và tuyên bố giải tán Hội đồng xã cùng tề ấp. Chỉ trong thời gian ngắn, vùng giải phóng được mở rộng. Đồng bào trong các khu tập trung của địch nổi dậy phá kềm bung về ruộng vườn cũ sản xuất và chiến đấu.
Tại xã Hưng Mỹ (Cái Nước), đồng chí Sáu Bến, Bí thư Chi ủy chỉ đạo, huy động hàng ngàn lực lượng chính trị, vũ trang và binh vận (chủ yếu là người nông dân) xông ra bao vây đồn Rau Dừa. Lực lượng bao vây liên tục 6 ngày đêm bức rút được đồn Rau Dừa. Tác động mạnh đến tụi lính đóng tại Đồn Lộ Mới (đoạn Rau Dừa - Cái Rắn) hoảng sợ rút chạy. Vùng giải phóng mở rộng liên hoàn nhiều xã trong huyện, tạo được khí thế tiến công địch của các địa phương trong tỉnh.
Tuyến Cà Mau Bắc, chi ủy xã Tân Lộc tập hợp cán bộ xã ấp bàn kế hoạch đánh địch. Đã vận động 250 lực lượng (nông dân là lực lượng đông nhất) đã thực hiện 3 mũi bao vây, lực lượng bên ngoài, nổi trống, mõ liên hồi, hô vang khẩu hiệu “Đả đảo Mỹ và bọn tay sai!”. Ta liên hệ và bố trí đưa một số gia đình binh sĩ vào đồn kêu gọi chồng, con, em bằng mọi cách trở về với nhân dân; nếu không sẽ bị lực lượng cách mạng đánh đồn diệt hết. Suốt 24 ngày đêm bao vây liên tục, đồn giặc gồm 1 trung đội lính đóng giữ (do tên Nghĩa chỉ huy) phải chịu đầu hàng, nộp hơn 30 súng, nhiều đạn dược và lựu đạn; anh em binh sĩ phấn khởi trở về đoàn tụ gia đình, được cách mạng biểu dương và tạo điều kiện sinh sống, cùng sản xuất và chiến đấu với nhân dân địa phương. Lực lượng ta tiếp tục bao vây đồn cầu số 3 và số 4; ban ngày lực lượng chính trị kéo ra đấu tranh, vận động binh sĩ, ban đêm du kích bao vây, pháo kích và làm bè chất nhiều bổi, đổ dầu kéo vào sát đồn phóng lửa đốt cháy rực trời; sau mấy ngày bao vây rúng ép, lính giữ đồn hoang mang bỏ đồn rút chạy! Xã Tân Lộc hoàn toàn giải phóng.
Quân dân Đầm Dơi huy động lực lượng bao vây đồn Tân Đức. Chi ủy xã chỉ đạo cho cán bộ binh vận tổ chức đi rước vợ trưởng đồn Khánh và phó đồn Nhiều đến, động viên và bố trí 2 chị vào đồn, dùng lý lẽ thuyết phục chồng đầu hàng cách mạng. Với khí thế của lực lượng 3 mũi giáp công, sau 3 ngày đêm bị bao vây cô lập, đồn Tân Đức bị bức hàng; cả trung đội địch mang toàn bộ vũ khí giao nộp cho cách mạng.
Chiến thắng Tân Đức tạo tiền đề cho phong trào nhân dân du kích chiến tranh huyện Đầm Dơi phát triển nhảy vọt. Khí thế nổi dậy diệt ác phá kềm, giành quyền làm chủ của nhân dân Đầm Dơi lan rộng khắp các xã nông thôn. Tại khu trù mật “Khai quang”, quân - dân ta liên tục nổi dậy bao vây, đào chiến hào đánh lấn địch từng thước đất. Qua nhiều ngày vây gí bắn tỉa, pháo kích cùng với lực lượng quần chúng nổi trống mõ áp đảo bức rút, bức hàng các đồn bót kềm dân ở khu trù mật Khai Quang; hàng 100 gia đình nông dân phá khu kềm kẹp trở về ruộng vườn cũ làm ăn.
Thắng lợi của cuộc Đồng khởi năm 1959 -1960, là thắng lợi của một quá trình chuyển hướng chiến lược của Đảng, lấy đấu tranh chính trị làm chủ yếu, đẩy mạnh đấu tranh chính trị vừa bảo tồn lực lượng, đồng thời xúc tích chuẩn bị lực lượng, phát động khởi nghĩa từng phần của quần chúng từng nơi, từng chỗ lan rộng trên một phạm vi rộng lớn, chuyển thành chiến tranh cách mạng, làm thay đổi tương quan lực lượng giữa ta và địch rất nhanh chóng.
Tháng 12 năm 1960,(1) Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam ra đời, đánh dấu một bước ngoặt lớn của cách mạng miền Nam. Ở Cà Mau ngày 20/10/1961, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam của tỉnh làm lễ ra mắt tại xã Phú Mỹ A (Cái Nước), hàng vạn đồng bào tham dự mít tinh chào mừng Mặt trận. Lần lượt tiếp theo, Mặt trận Dân tộc giải phóng các huyện và xã trong tỉnh được thành lập và ra mắt nhân dân.
Lúc bấy giờ công tác đoàn thể (Nông dân, Phụ nữ, Thanh niên) được củng cố và phát triển, nhất là tổ chức Hội Nông dân giải phóng là thành viên của Mặt trận được cơ cấu xuống tận xã. Hội Nông dân lúc này tập trung vận động nông dân, thực hiện tốt 10 điểm Chương trình hành động của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam với nội dung chính là: Đánh đổ chế độ tay sai bán nước (Ngô Đình Diệm), xây dựng miền Nam Việt Nam độc lập, dân chủ, hòa bình, trung lập tiến tới hòa bình thống nhất đất nước...
Phát huy vai trò Mặt trận mới ra đời, Đảng ta chủ trương: Đẩy mạnh công tác dân vận Mặt trận tiến kịp tình hình phát triển hiện nay, phải khẩn trương xây dựng, củng cố tổ chức các Đoàn thể quần chúng thật rộng rãi như: Hội Nông dân giải phóng, Thanh niên giải phóng, Phụ nữ giải phóng và các tổ chức chính trị ở khắp 3 vùng (thành thị, nông thôn, rừng núi)... Nhằm thu hút các tầng lớp giác ngộ về quyền lợi giai cấp, dân tộc chống lại chính sách chia rẽ, mua chuộc của địch...
Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam các cấp trong tỉnh ra đời đã tạo môi trường gắn bó sự đoàn kết của các tầng lớp nhân dân, tạo thành động lực huy động sức mạnh cho cách mạng. Nhất là ở nông thôn, nông dân đã phát huy cao độ trong lao động sản xuất, sẵn sàng đóng góp người, của xây dựng vùng giải phóng, quyết tâm cùng Đảng đi đến ngày toàn thắng
Phong trào xây dựng ấp, xã chiến đấu ở các xã vùng giải phóng được phát động rộng rãi và mạnh mẽ. Có hàng vạn nông dân ở các huyện tham gia vót chông, đào tuyến lũy, đắp chướng ngại trên lộ (làm cản đường giao thông của địch), cấm chông bao vây đồn địch (cấm lấn sát đồn bót bẫy chông chết). Ở xóm, ấp các đoàn thể, nòng cốt là các lực lượng nông dân tổ chức các trạm gác để thông tin báo động khi có giặc đến, hoặc có hiện tượng đánh phá vào vùng giải phóng, để kịp thời bố trí gài lựu đạn, đạp lội... nhiều anh chị em nông dân tham gia rất tích cực; đặc biệt những người lớn tuổi và đây cũng là lực lượng hợp pháp thường xuyên đối mặt với kẻ thù, dùng lời lẽ đấu lý với chúng, để chúng không ruồng bố, càn quét, bắt, giết những người dân vô tội.
Để phát huy phong trào du kích chiến tranh nhân dân, anh em nông dân tổ chức những nơi làm vũ khí thô (đạp lôi, lựu đạn, rèn mã tấu, súng “độc lập” để cung cấp cho dân quân du kích đánh giặc. Phong trào nông dân tham gia kháng chiến trong những năm sau đồng khởi khá sôi nổi, tạo được không khí vùng nông thôn giải phóng, với tư tưởng sẵn sàng khi Đảng cần.
Mặt trận Dân tộc Giải phóng ra đời, các đoàn thể Nông - Thanh - Phụ được chỉnh đốn lại. Ban Nông vận trước đây, nay được Tỉnh ủy chỉ định, sắp xếp lại thành Ban chấp hành Nông hội tỉnh, lấy tên Hội Nông dân Giải phóng.
Phong trào xây dựng ấp xã chiến đấu ở các xã giải phóng phát triển mạnh mẽ. Người dân tích cực tham gia vót chông, đào công sự, rào chướng ngại vật, cắm chông lấn sát đồn bót địch. Từng xóm ấp, tổ chức các trạm gác để thông tin báo động khi có giặc càn để nhân dân sơ tán tránh né và du kích bố trí chông lôi, lựu đạn chống càn, bảo vệ vùng giải phóng. Các xã vùng giải phóng phát triển từ 1 tiểu đội du kích, có nhiều xã đến 1 trung đội, trang bị chỉ có vài khẩu súng trường hoặc tiểu liên (các-bin) lấy được của địch và súng “độc lập” do các công trường xã sản xuất, với mã tấu, lựu đạn. Dân quân tự vệ mỗi ấp phát triển từ 1 tiểu đội đến 1 trung đội. Nam nữ nông dân từ 18 đến 50 tuổi đều tham gia dân quân tự vệ, luân phiên canh gác, phá lộ, xây dựng ấp xã chiến đấu, bao vây đồn bót địch, tiếp tế, tải thương v.v…Phong trào văn hóa, giáo dục, y tế cũng được chú trọng; nông dân tham gia tích cực, các xã đều có trường học, trạm y tế, nhà bảo sanh, có đội truyền tin, xã có đội ca, vũ phục vụ đồng bào; tạo sinh khí chiến đấu và sản xuất ở vùng giải phóng.
Nông dân Cà Mau phấn khởi tham gia chiến đấu và sản xuất, xây dựng vùng nông thôn giải phóng trở thành căn cứ địa cách mạng. Vùng giải phóng càng được mở rộng, nông dân tập trung cày cấy hết diện tích và làm nghĩa vụ đóng “Đảm phụ giải phóng” mỗi năm lên đến hàng triệu giạ lúa cho cách mạng. Những bồ “Lúa đảm phụ” được phân tán gửi trong dân, cất chòi ở sau vườn chứa lúa, bố trí chông xung quanh để chống địch càn vào đốt phá. Lúa khô, lúa sạch và bảo vệ rất chu đáo để đóng góp cho cách mạng được người nông dân đặt lên hàng đầu, phong trào đóng đảm phụ giải phóng rất sôi nổi, từng đoàn xuồng của bà con nông dân chở lúa đi nộp có trống, múa lân, có băng cờ, khẩu hiệu rợp trời, vui như ngày hội lớn.
Sau khi chiến tranh “Đơn phương” bị phá sản, đế quốc Mỹ ngoan cố chuyển sang chiến lược “Chiến tranh Đặc biệt”(1) hòng xoay chuyển tình thế, phản kích lại phong trào cách mạng của nhân dân ta, cứu nguy cho ngụy quyền Sài Gòn. Chúng tiến hành kế hoạch Stalây-Tây-lo nhằm bình định miền Nam trong 18 tháng. Thực hiện kế hoạch trên, Mỹ - Ngụy lấy càn quét lấn chiếm, gom dân lập“Ấp chiến lược làm xương sống của cuộc chiến tranh xâm lược”.
Bọn ngụy quyền Sài Gòn lấy tỉnh An Xuyên làm trọng điểm đánh phá, vùng U Minh và các huyện nông thôn giải phóng, căn cứ địa cách mạng là địa bàn. Tại tiểu khu An Xuyên, chúng tăng thêm cố vấn Mỹ trực tiếp chỉ huy các cuộc hành quân; đồng thời tăng cường bắt lính đôn quân, cho dọ thám gián điệp vào vùng giải phóng nắm tin tức phục vụ cho chiến dịch của chúng. Chúng tập trung hỏa lực mở nhiều cuộc hành quân càn quét, hòng chiếm lại những vùng bị mất; ra sức lùa dân lập “Ấp chiến lược” dựng lại bộ máy kềm kẹp; tô dày thêm đồn bót, tháp canh trên các tuyến đường chiến lược (kể cả đường bộ lẫn đường sông).
Để chủ động đối phó với âm mưu thủ đoạn mới của địch, Tỉnh ủy Cà Mau chủ trương, tăng cường công tác xây dựng Đảng, chủ yếu xây dựng và củng cố các Chi bộ Đảng vững mạnh, xây dựng và phát triển thực lực cách mạng về mọi mặt, nhất là lực lượng vũ trang, bán vũ trang, đẩy mạnh cuộc tiến công địch bằng 3 mũi giáp công, quyết đánh bại các cuộc càn quét lấn chiếm của địch, quyết phá tan âm mưu dồn dân lập ấp chiến lược của Mỹ - Ngụy.
Kiện toàn các tổ chức đoàn thể và Mặt trận, mở rộng Mặt trận đoàn kết dân tộc, tôn giáo, tập hợp dưới ngọn cờ của Mặt trận, huy động cao độ sức người, sức của cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nhanh chóng giành thắng lợi....Phong trào xây dựng ấp xã chiến đấu ở vùng giải phóng phát triển mạnh mẽ, trong hội viên, đoàn viên các đoàn thể. Nổi bật là hàng vạn hội viên nông dân giải phóng tham gia vót chông, đào công sự, rào chướng ngại vật, cắm chông, xây dựng bãi chông, bãi mìn. Từng xóm ấp tổ chức các trạm gác để thông tin báo động khi có giặc càn, giúp dân chủ động sơ tán, tránh né; cùng với lực lượng du kích, dân quân tự vệ bố trí các điểm chông lôi, lựu đạn chống càn, với quyết tâm bảo vệ vùng giải phóng
Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy Cà Mau, các Huyện ủy trong tỉnh chỉ đạo các xã tích cực xây dựng ấp xã chiến đấu. Hầu như nhà nào cũng có hầm chông, xóm nào cũng có bãi chông, bãi lửa. Ở Đầm Dơi mỗi xã có trên 1.300 hầm chống pháo, hàng ngàn hầm chông. Huyện Trần Văn Thời, qua 2 tháng phát động hàng ngàn nông dân, phụ nữ (già, trẻ) tham gia cắm hàng triệu mũi chông, cộc chống trực thăng; bố trí hàng trăm bãi chông, đào đắp hàng ngàn công sự chiến đấu, đào trên 2.000 hầm chông, hàng chục cản ngăn tàu địch trên các tuyến sông. Xã Khánh Hưng huy động lực lượng nông dân trong xã xây dựng lũy chiến đấu, hình thành một tuyến dài từ kinh Hào Sai đến Cơi Nhì gần 3 ki-lô-mét. Xã Trần Hợi xây dựng bãi chông dài 5 km từ chùa khmer đến ngã tư Nhà Máy. Nhiều nơi bà con nông dân tranh thủ đi khắp các khu vườn rậm tìm nhiều ổ ong vò vẽ lấy đem về treo các cửa rào chiến đấu (để cho địch sợ) ngăn chận địch càn vào xóm ấp.
Bà con nông dân trong tỉnh phát huy sáng kiến làm ra nhiều mang ênh, sản xuất ra nhiều đạp lôi, đào hầm chông tre, chông phảng, chông hom… Phong trào đấu tranh chính trị của anh chị em nông dân diễn ra khắp nơi trong tỉnh. Những cuộc chiến tranh trực diện chống địch càn quét khủng bố, điển hình tiêu biểu như: Tại Cái Nước, đêm 23 rạng 24 tháng 4 năm 1962, Ban chỉ đạo đấu tranh chính trị của huyện huy động trên 200 lực lượng đấu tranh trực diện tập trung tại kinh Dân Quân, ấp Bàu Chấu. Đoàn xuồng 80 chiếc chở lực lượng trực diện do chị Nhẫn, má Ba và anh Cang chỉ huy, tiến thẳng hướng về đồn Vàm Đình. Bọn chỉ huy ác ôn thấy đoàn xuồng chở lực lượng đấu tranh tới gần, chúng ra lệnh nổ súng áp đảo. Đạn bay vèo vèo trước mũi xuồng, nước văng trắng xóa. Chị em bình tĩnh hô khẩu hiệu và chèo xuồng lướt tới. Chị Nhẫn đi xuồng dẫn đầu bị trúng đạn ngã trên tay chị Sáu Rạch. Chị Sáu Rạch hô vang tiếp tục tiến tới. Chị Tua và anh Cang cũng bị bắn chết ngay trên xuồng. Đoàn biểu tình xông thẳng tới, tràn lên bờ, kéo vào cơ quan Hội đồng Hương chính xã đóng tại Vàm Đình đòi kẻ thù đền mạng. Bọn ác ôn vẫn còn hậm hực, nhưng trước sự phẫn nộ và khí thế xung thiên của đồng bào, bọn chỉ huy ác ôn phải nhận tội và chịu bồi thường nhân mạng. Các má, các chị trở về được Hội mẹ, Hội Nông dân và Phụ nữ thăm hỏi ân cần và tổ chức đám tang phát động căm thù. Chị Nhẫn trước khi trúc hơi thở cuối cùng còn nhắc đến tổ chức cho xin được đóng Đoàn phí.
Vào cuối tháng 4 năm 1962, tại Vàm Xáng xã Tân Hưng đã nỗ ra cuộc đấu tranh trực diện của hàng ngàn chị em phụ nữ và nông dân. Hàng ngàn người tập hợp xếp thành đội ngũ chỉnh tề giương cao băng cờ, khẩu hiệu kéo biểu tình tiến thẳng vào đồn địch đóng tại Vàm Xáng Tân Hưng đòi chấm dứt khủng bố, đòi bồi thường cho người bị hại, đòi trừng trị kẻ sát nhân. Chị Thanh Hồng cầm cờ đi trước. Giặc nổ súng, chị Hồng ngã xuống vừa kịp trao lá cờ cho má Sáu dẫn đoàn đấu tranh xông tới. Má Sáu lại bị trúng đạn (đổ ruột). Chị em vừa khiêng chị Hồng lên phía trước, vừa băng bó cho má Sáu và những người bị thương, tiếp tục khiêng những nạn nhân bước tiếp theo đoàn biểu tình. Tiếng hô khẩu hiệu vang dội Đả đảo Mỹ - Diệm! đả đảo hành động khủng bố nhân dân! Anh em binh sĩ yêu nước hãy hướng về đồng bào đòi chấm dứt khủng bố, đòi trừng trị bọn ác ôn.
Cuộc đấu tranh gây tiếng vang lớn làm chấn động dư luận khắp nơi trong tỉnh, đã lên án chế độ Mỹ - Diệm khủng bố những người dân lương thiện; dấy lên làn sóng đấu tranh quyết liệt của các tầng lớp nhân dân chống lại kẻ thù.
Ngày 10 tháng 9 năm 1962, tại Đầm Dơi tàu sắt địch chạy dọc trên sông bắn bừa bãi hai bên bờ làm cho bà mẹ của đồng chí Ba Chiến trúng đạn chết. Ban lãnh đạo đấu tranh chính trị của huyện cùng các chị Trần Thị Danh, Trần Thị Kế và đồng chí Sáu Y vận động 50 anh chị em nông dân, cùng với thân nhân và người nhà chở thi hài bà mẹ đến đồn Đầm Dơi đấu tranh. Bọn địch chịu bồi thường hòm rương tẩn liệm... Đây là cuộc đấu tranh đã giành thắng lợi, làm hạn chế sự giết người tùy tiện của bọn địch.
Ban lãnh đạo đấu tranh chính trị họp đánh giá tình hình: Cuộc đấu tranh vừa qua ta có đạt được yêu cầu về chính trị, làm cho địch phải chấp nhận tội lỗi và bồi thường thiệt hại cho gia đình đồng chí Ba Chiến. Nhưng cũng cần thấy rằng không thể nào chúng ta cứ để cho địch tự do giết người rồi tung tiền ra đền mạng là xong. Ban lãnh đạo quyết định tiếp tục đưa lực lượng đấu tranh tới quy mô lớn hơn. Hai ngày sau đó (Ngày 12 tháng 9 năm 1962), cả ngàn chị em phụ nữ, nông dân, kéo đến đồn Đầm Dơi đưa đơn yêu cầu tàu sắt chạy trên sông không được bắn bừa bãi vào nhà dân và phải ngưng ngay việc dùng máy bay rải chất độc hóa học hại người và hủy diệt cây cối hoa màu của bà con. Địch bắn xối xả vào đoàn biểu tình làm một số người chết và bị thương. Chúng vẽ nước sơn lên áo, lên nón lá của chị em những khẩu hiệu phản động. Các chị liệng bỏ nón, cởi áo vứt bỏ và hô to khẩu hiệu “Đả đảo đế quốc Mỹ và bọn tay sai bán nước”. Bọn giặc điên cuồng đánh đập chị em gây nhiều thương tích, mặt mũi đầy máu và chúng còn bắt giam một số chị em.
Ban Chỉ huy đấu tranh gồm các đồng chí Huỳnh Văn Tửu (Tám Bông), Tám Tánh, Sáu Thanh và Bảy Châu quyết định đưa lực lượng đấu tranh với quy mô lớn hơn. Ngày 23 tháng 10 năm 1962, hơn 5.000 người (nhiều nhất là nữ) tập trung hình thành đội ngũ chỉnh tề chia làm 3 mũi, dùng xuồng chở lực lượng đấu tranh trực diện tập hợp lại tại ngã ba sông Đầm Dơi. Hàng trăm chiếc xuồng chen đầy mặt sông. Nhiều chị em đang mang thai và có con nhỏ, có những bà mẹ tóc bạc phơ cũng hăng hái tham gia đấu tranh trực diện.
Trước khí thế căm thù, các chị tràn tới ồ ạt, làm cho bọn địch lúng túng chạy ngược chạy xuôi, bắn chỉ thiên dọa dẫm. Đoàn người trực diện giáp mặt với kẻ thù, họ càng hô vang “Đả đảo Mỹ - Diệm!,“Hãy thả những người bị giam giữ!”, tiếng hô vang như làm át cả tiếng súng. Các chị bị nhốt trong nhà giam vỗ vách, vỗ cửa đòi được thả ra. Bọn địch ngoan cố bắn xả vào đoàn biểu tình làm nhiều người chết tại chổ và bị thương, máu loang đỏ khúc sông. Một bà má nghèo bán xôi ở chợ Tân Duyệt đau lòng trước thảm cảnh này, liền bỏ thúng xôi chạy đến bọn lính trên bờ đang bắn vào bà con ta, mẹ nâng họng súng máy lên, đạn bay bỗng lên trời. Thừa thế đoàn người tràn lên bờ, dùng dầm, chèo, mía khúc đánh túi bụi với bọn lính làm náo động cả chợ Tân Duyệt. Chị Lý đang mang thai 3 tháng bị trúng đạn trong khi xung phong và cháu Hoàng chưa tròn 3 tuổi cũng bị bắn chết trên tay chị. Cả mẹ và 2 đứa con (cháu Hoàng và cái thai còn trong bụng mẹ) đã hy sinh xương máu mình cho cuộc đấu tranh giành thắng lợi.
Nhiều binh sĩ địch được các chị tranh thủ không còn dám nổ súng đàn áp đồng đào. Lòng yêu nước của anh em binh lính được khơi dậy, họ đang đứng về phía nhân dân, mặc nhiên không thi hành lệnh của bọn chỉ huy ác ôn bắn giết đồng bào. Những tên ngoan cố đứng trước tình thế bị cô lập và phải đương đầu với sức phản ứng mạnh mẽ cả trăm người dân thị trấn, buộc chúng phải đứng ra trước dân nhìn nhận tội lỗi giết người và ra lệnh thả hết số người bị bắt.
Một lần nữa, đòn tấn công chính trị kết hợp với binh vận của huyện Đầm Dơi đã giành được thắng lợi, nâng cao uy thế chính trị bằng bạo lực quần chúng, làm phân hóa nội bộ kẻ thù, lên án chế độ độc tài phát xít của Mỹ - Diệm, gây cho bọn ngụy quân, ngụy quyền ở địa phương bối rối, khiếp sợ.
II. NHỮNG CUỘC ĐẤU TRANG CHỐNG ĐỊCH THẢM SÁT ĐIỂN HÌNH
Đầu tháng 6 năm 1962, giặc càn vào xã Khánh Bình Đông bắn chết 04 người. Chị Hai Miền cùng với Ban lãnh đạo đấu tranh vận động trên 300 nông dân và chị em phụ nữ chở 4 quan tài người chết ra thị xã Cà Mau, đấu tranh với bọn ngụy quyền tỉnh An Xuyên. Trời vừa rạng sáng, xuồng chở 4 quan tài cặp bến chợ, khói hương nghi ngút, tiếng khóc kể của thân nhân, người nhà nạn nhân vang dội. Chị em buôn gánh bán bưng bỏ buổi chợ sáng tụ tập đông nghẹt vây quanh 4 quan tài, bàn tán xôn xao lên án bọn giết người. Bọn hiến binh đến điều tra và lập biên bản hiện trường; được dịp, người nhà nạn nhân vạch trần tội ác kẻ giết người, đông đảo nông dân tham gia đấu tranh cực lực lên án chúng và cùng với gia đình nạn nhân đòi bồi thường nhân mạng, đông đảo binh sĩ ngụy đồng tình hưởng ứng. Bọn ngụy quyền An Xuyên cử đại diện trực tiếp gặp gia đình nạn nhân xoa dịu, hứa hẹn bồi thường. Trong lúc lực lượng đấu tranh còn đang giằng co, thì địch cho tàu đến dòng đoàn xuồng ra khỏi bến chợ về đến Tắc Thủ. Đoàn đấu tranh đưa 4 quan tài về làm lễ an táng tại gia đình nạn nhân và tiếp tục phát động căm thù, bà con dự lễ an táng hứa hẹn nguyện trả thù cho nạn nhân bằng hành động của mình, tiếp tục tham gia đấu tranh tới cùng để ngăn chặn bàn tay đẩm máu của địch.
Cuối tháng 6 năm 1962, bọn lính đồn Đường Cày càn vào xóm bắn chết 6 đứa con của anh chị Út trong lúc anh chị đi vắng nhà. Cháu nhỏ nhất 3 tuổi chết mang 9 vết thương trên người. Ban đấu tranh chính trị của huyện Cái Nước có chị Lê Thị Xuyến (Hai Trung) và Sáu Hon trực tiếp vận động anh, chị em nông dân trong xã chở xác 6 cháu ra thị xã Cà Mau đấu tranh, tố cáo tội ác của địch. Lực lượng đấu tranh gồm hàng 100 người, gói xác 6 cháu trong vải cao su và nghi trang bên trên bằng dừa, chuối và hành tỏi để rút mùi hôi. Sáu giờ sáng đoàn xuồng đến đậu tại Bến Đá, đồng bào thị xã Cà Mau kéo đến bao quanh cả vòng trong và vòng ngoài để hỗ trợ cho đoàn đấu tranh. Bọn ngụy quyền tỉnh An Xuyên đưa lực lượng đến dàn xếp, hứa bồi thường sinh mạng và chi phí chôn cất. Mặt khác, chúng đưa lực lượng đến định cướp xác để phi tang tội ác của chúng. Các chị nhanh trí đối phó, chia ra một bộ phận vây gí níu kéo không cho chúng cướp thây, một số chị chặt dây xuồng chở tử thi lui ra giữa sông, chèo đi cách Bến Đá hơn 1.000 m đậu lại làm mít tinh phát động căm thù, xong đoàn đấu tranh chở 6 thi hài các cháu về tận gia đình chôn cất.
Năm 1962, bọn biệt kích khu Bình Hưng, phối hợp với bọn lính đồn Vàm Đình vào ấp Đất Sét, xã Phú Mỹ bao vây nhà chú Tám Xồi, nổ súng bừa bãi vào nhà giết chết 14 người. Cả bọn sát nhân tràn vào nhặt xác 14 nạn nhân gom lại, chém chặt không thương tiếc những xác chết, trong đó có em bé mới ra đời 45 ngày bị chặt đứt phân nửa cái đầu nằm sát bên thây người mẹ. Chúng phóng lửa đốt trụi ngôi nhà chú Tám Xồi, để thiêu trụi những xác chết của người dân lương thiện. Hơn 1.000 nông dân và chị em phụ nữ các ấp trong xã Phú Mỹ tập trung lại chở 14 tử thi trong gia đình chú Tám Xồi đến quận Cái Nước đấu tranh. Chị Sáu Hon nách con nhỏ chạy theo đoàn, được chị em cử Sáu Hon thay người con gái lớn của chú Tám, còn sống sót vào gặp quận trưởng tố cáo tội ác của chúng, đồng thời xin 3 mẫu đơn nhờ hắn chứng nhận để đi thưa bọn Bình Hưng đến ngụy quyền Sài Gòn.
Đoàn đấu tranh tiếp tục kéo ra thị xã Cà Mau, đông đảo đồng bào ở thị xã, trong đó có nhiều gia đình binh sĩ đồng tình ủng hộ cuộc đấu tranh. Nhiều vợ con binh sĩ ôm mặt khóc nức nở không ngớt lời nguyền rũa bọn giết người. Bọn địch từ Tòa hành chính nói chuyện qua máy phóng thanh hứa hẹn sẽ bồi thường và yêu cầu bà con giải tán. Chị Sáu Hon giả làm con gái lớn của chú Tám còn sống sót cùng với một số chị em, được đoàn đấu tranh cử làm đại diện đến Quốc Hội, Tổng Thống ngụy quyền Sài Gòn - Chợ Lớn nhờ can thiệp và đưa dư luận tố cáo tội ác bọn Bình Hưng công khai trên các Báo Sài Gòn.
Cuộc đấu tranh chống thảm sát gia đình chú Tám Xồi ở xã Phú Mỹ có tiếng vang lớn ảnh hưởng chính trị rộng rãi trong và ngoài tỉnh. Trong những cuộc đấu tranh trực diện với địch có các chị Lê Thị Xuyến, Sáu Hon, Năm Lẹ và những người chỉ huy linh hoạt, sáng tạo và chị Ba Lụa ở Rạch Láng là người có nhiều sáng kiến, có lý lẽ sắc bén “Ăn miếng trả miếng” với kẻ thù, buộc chúng phải cúi đầu nhận tội và chấp nhận mọi yêu sách của bà con yêu cầu.
Chỉ tính trong 2 năm (1962 – 1963), toàn tỉnh có 450 cuộc đấu tranh lớn nhỏ trên 28.000 người tham gia chở tử thi ra tận quận lỵ, tỉnh lỵ và đến bọn ngụy quyền Sài Gòn tố cáo tội ác của chúng, bóc trần bộ mặt phát xít độc tài của chế độ Mỹ - Diệm trước dư luận trong và ngoài nước..
Năm 1963(1) địch dùng chiến thuật “Trực thăng vận” đánh một số nơi trong tỉnh. Những trận đầu địch đã gây cho ta nhiều thiệt hại về tính mạng và tài sản, nhưng sau đó chiến công của đồng chí Nguyễn Việt Khái(1) 8 phát đạn cạc-bin hạ 2 chiếc tại chỗ và 2 chiếc bị thương diệt nhiều tên địch. Chiến công của đồng chí Nguyễn Việt Khái làm phấn khởi nhân dân trong tỉnh nói chung đối với nông dân ta nói riêng, làm cho kẻ thù không còn dùng chiến thuật “Trực thăng vận” ở vùng đất Cà Mau.
Ngày 10 tháng 9 năm 1963, cùng một lúc ta tiêu diệt 2 Chi khu (Đầm Dơi, Cái Nước) loại khỏi vòng chiến đấu gần 500 tên. Phát huy thắng lợi, ngày 23 tháng 11 năm 1963, ta đánh vào cứ điểm Chà Là và đánh cam diện suốt 2 ngày ác liệt ta diệt 300 tên và hàng chục máy bay bị bắn rơi. Với thắng lợi đó, làm nguồn động viên rất lớn đối với nhân dân trong tỉnh nói chung, đối với nông dân nói riêng phấn khởi hăng sai sản xuất, đặc biệt là bà con vận động thanh niên và con em mình tòng quân giết giặc lập công. Tinh thần sản xuất nuôi quân ngày càng rầm rộ trong vùng giải phóng của ta.
Từ năm 1961-1965, địch tăng cường rãi chất độc hóa học để phát hoang rừng, phá vùng căn cứ cách mạng, đồng thời để phá hoại sản xuất của nông dân; nhiều nơi trong tỉnh bị thiệt hại hàng ngàn hecta hoa màu, vườn tược... Trước tình hình đó, tỉnh tập trung khắc phục khó khăn chỉ đạo vùng nông thôn giải phóng, trên các mặt chiến đấu và xây dựng. Phát huy sự đoàn kết của dân, nhất là nông dân để tạo động lực cho cách mạng; tập trung sản xuất, khắc phục mọi khó khăn để sản xuất nông nghiệp nhằm đảm bảo lương thực cho dân và kịp thời để nuôi quân. Nhiều xã ấp của vùng giải phóng sản xuất dưới bom đạn địch; quyết tâm làm hết ruộng đất ở vùng giải phóng, những gia đình vừa sản xuất lúa, vừa chăn nuôi để tạo nguồn nông nghiệp ngày càng nhiều. Trong thời kỳ của những năm 1961, 1962, 1963, tuy bom đạn địch đánh phá, nhưng đất đai cơ bản đều được canh tác được mùa, sự đóng góp nuôi quân (đảm phụ) xã ấp nào cũng đạt kế hoạch.
Trong thời kỳ địch thực hiện chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, chúng tập trung đánh vào vùng căn cứ và vùng giải phóng của ta, nhất là tập trung đánh sâu vào rừng đước Năm Căn, chúng cho là nơi kho tàng vũ khí của ta chở từ Bắc vào Nam. Vì thế chúng mở chiến dịch gọi là “Sóng tình thương” huy động các hỏa lực của địch với hàng trăm chiếc tàu của thủy quân và không quân cùng với lực lượng thủy quân lục chiến, bộ binh hàng ngàn quân đánh vào vùng rừng đước; đồng thời phong tỏa nước uống, gạo không cho chở vào rừng... lúc bấy giờ người dân sống ven rừng gặp nhiều khó khăn, tìm mọi cách để chuyển lương thực cứu đói; đồng thời dân nơi đây đã sáng kiến nấu trái mắm ăn để thay cơm, chưng cất nước mặn để có nước ngọt uống, để bám đất, bám rừng, chống lại những âm mưu của địch.
Với phong trào thi đua Ấp Bắc giết giặc lập công, nhân dân nói chung, nông dân nói riêng đã tích cực thi đua sản xuất. Các đội vần đổi công được phát huy mạnh mẽ; Hội Nông dân ở xã, ấp vận động nông dân vượt khó khăn và quyết tâm bám ruộng vườn để sản xuất; ở các xã Trần Hợi, Khánh Lâm, Trí phải, Tân Lộc, Tân Thuận, Quách Văn Phẩm, Tân Hưng, Phú Hưng... phong trào sản xuất, đóng góp đảm phụ của nông dân ngày càng nhiều. Các hoạt động của tổ chức Nông hội giải phóng ngày được phát huy, tạo được động lực cho việc xây dựng, củng cố phát triển vùng giải phóng. Năm 1963 chính quyền cách mạng cấp hơn 1000 ha ruộng đất cho 360 hộ nông dân
Chỉ trong năm 1963, lực lượng vũ trang tỉnh Cà Mau và đơn vị của Quân khu 9, đã tập kích tiêu diệt nhiều Chi khu và cứ điểm quan trọng (Đầm Dơi, Cái Nước, Huyện Sử, Chà Là ...). Thắng lợi này đánh dấu bước trưởng thành của lực lượng vũ trang tỉnh nhà và tạo niềm vui phấn khởi cho nông dân trong tỉnh. Từ đó tạo nguồn thúc đẩy phong trào cách mạng của nhân dân, đồng thời tham gia tích cực bẻ gẫy những kế hoạch bình định của địch. Tuy mức độ đánh phá bằng bom đạn và chất độc hóa học của địch rất khốc liệt, chúng phong tỏa đường giao thông chiến lược, chia cắt vùng căn cứ địa ra từng mảng, phong tỏa gạo và nước ngọt, cấm không cho chở vào rừng, để tiêu diệt cơ sở cách mạng trong khu căn cứ. Nhân dân ta và lực lượng vũ trang, các cơ quan của tỉnh, của khu phải bám chặt vào rừng cây cùng người dân chiến đấu quyết liệt để bảo vệ vùng căn cứ; thiếu gạo ăn, nhân dân và bộ đội phải đi vớt trái mắm nấu bớt chất đắng để ăn thay cơm. Cuộc sống của nông dân trong thời chiến rất vất vã, vừa chiến đấu giữ làng, vừa sản xuất nuôi quân; với tinh thần “Tay cày, tay súng” mà bám đất giữ làng, dù cho bom đạn ác liệt người nông dân Cà Mau vẫn một lòng tin theo Đảng.
Trong khí thế tiến công của quân và dân trong tỉnh, mùa khô năm 1965, Huyện ủy Đầm Dơi chủ trương bao vây đánh lấn, tiến tới đánh bật chi khu Đầm Dơi; đây là chi khu được địch xây dựng kiên cố vững chắc có nhiều tháp canh kiên cố để chống lại ta. Tiến hành bao vây, Ban chỉ đạo chiến dịch đã huy động mọi nguồn lực trong huyện để duy trì việc bao vây chiến hào để đánh địch. Lực lượng hậu cần cơ bản là: lực lượng nông dân, phụ nữ, tiếp tế lương thực, thực phẩm và gói bánh dừa, bánh tét, tiếp tế cho lực lượng của ta. Phải nói bao vây 180 ngày đêm ở chiến hào là sự quyết tâm rất lớn của Đảng bộ và quân dân Đầm Dơi, trong đó có lực lượng hùng hậu là nông dân của huyện. Kết quả đó ta rút ra những nguyên nhân cơ bản là: Các đội vũ trang tuyên truyền tỉnh, huyện, xã sử dụng có hiệu quả các phương tiện loa phóng thanh, rải truyền đơn, nội dung đánh đúng, đánh trúng tâm trạng của binh lính địch. Sử dụng lực lượng tuyên truyền kết hợp tổ chức binh vận, huy động được lực lượng ngoại tuyến làm nhiệm vụ tuyên truyền và bắt mối; vận động có hiệu quả lực lượng là thân nhân binh sĩ địch để tuyên truyền, tạo sự ủng hộ mạnh của các tầng lớp nhân dân trong xã hội.
Năm 1963, ta tổ chức Hội gia đình binh sĩ yêu nước; khi Hội ra đời đã tập hợp ngày càng đông đảo gia đình binh sĩ ngụy tham gia, có nhiều xã 100% gia đình binh sĩ xin vào Hội, và các tổ chức Đoàn thể cách mạng, đặc biệt tổ chức Nông hội giải phóng thường xuyên giúp đỡ họ. Khi có tổ chức gia đình binh sĩ, thì lực lượng này trở thành mũi nhọn xung kích sắc bén trong phong trào đấu tranh trực diện, bao vây đồn bót, đặc biệt là làm công tác tuyên truyền binh sĩ, giác ngộ chồng, con, em nói rõ nội dung, yêu cầu họ, từng bước vận động làm tan rã hoặc binh biến, làm đầu mối cho ta xây dựng cơ sở trong lòng địch. Nhiều gia đình binh sĩ trở thành cơ sở “Mật giao” tích cực, đáng tin cậy. Những gia đình có thành tích được biểu dương khen thưởng, châm bồi trở thành những hội viên nông dân, trở thành cán bộ “Mật giao” cơ sở binh vận. Từ đó công tác binh vận đã tổ chức binh vận có hàng ngàn tổ với trên 4.000 người; hầu hết là hội viên đoàn thể Phụ nữ, Nông dân; nằm rải rác khắp địa bàn ở đô thị đến vùng nông thôn giải phóng. Lực lượng này chủ yếu nằm tại chỗ làm nhiệm vụ tuyên truyền binh sĩ để phối hợp chống càn, phối hợp làm binh vận trong các cuộc đấu tranh trực diện. Lực lượng binh vận thường trực là những hội viên nông dân quen thuộc địa bàn tham gia chống càn có nhiều hiệu quả. Bằng nhiều cách tuyên truyền kềm chân địch, tổ chức ăn nhậu để dụ địch “Ôm hè bắt hè” diệt địch, thu súng, như: ông Phụng (Cái Nước), ở ngọn Đầu Nai, ở xã Quách Văn Phẩm, ở Tân Lộc chặn đầu xe lội nước không cho địch càn quét bắn phá...
III. GÓP PHẦN ĐÁNH BẠI CHIẾN TRANH CỤ BỘ CỦA ĐẾ QUỐC MỸ
Chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” bị phá sản. Tổng thống Mỹ Nixon vội vã đổ quân Mỹ và chư hầu ồ ạt vào miền Nam để tiến hành “Chiến tranh cục bộ” nhằm cứu vãn cho ngụy quân - ngụy quyền Sài Gòn khỏi bị sụp đổ; chúng còn liều lĩnh gây chiến tranh phá hoại bằng không quân ra miền Bắc, nhằm ngăn chặn sự chi viện cho miền Nam. Hành động leo thang chiến tranh của đế quốc Mỹ đã đặt nhân dân ta trước một thử thách cực kỳ nghiêm trọng.
Năm 1965, Trung ương Đảng mở 02 cuộc hội nghị khẩn cấp. Hội nghị lần thứ 11 (tháng 3 năm 1965), hội nghị lần thứ 12 (tháng 12 năm 1965) đã đề ra quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ, “Dù Mỹ thêm mấy chục vạn binh sĩ Mỹ và cố lôi kéo thêm Quân đội các nước chư hầu vào cuộc chiến tranh tội ác này, thì quân và dân ta cũng quyết đánh thắng chúng…”, “Lúc này chống mỹ, cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng nhất của mọi người dân Việt Nam yêu nước…”, “Tất cả chúng ta hãy đoàn kết nhất trí triệu người như một, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược…”. (1)
Đảng ta nhận định so sánh lực lượng giữa ta và địch vẫn không thay đổi lớn. Đảng ta ra tư tưởng chỉ đạo chiến lược là: Giữ vững và phát triển thế tiến công, kiên quyết tiến công và liên tục tiến công. Về phương châm chiến lược là: Đánh lâu dài, dựa vào sức mình là chính, càng đánh càng mạnh, càng phải cố gắng đến mức độ cao, tập trung lực lượng của cả hai miền để mở những cuộc tiến công lớn, tranh thủ thời cơ giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn trên chiến trường miền Nam. Phương châm đấu tranh vẫn là: Tiếp tục kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, triệt để thực hiện 3 mũi giáp công.(1)
Ở miền Nam, những trận đọ sức đầu tiên trực tiếp với quân Mỹ ở Núi Thành (Quảng Nam) tháng 5 năm 1965, Vạn Tường (Quảng Ngãi) tháng 8 năm 1965 đã giành thắng lợi vang dội tạo niềm tin của quân và dân ta về khả năng đánh Mỹ và thắng Mỹ. Những thắng lợi đó đã cổ vũ mạnh đến nhân dân ta nói chung, đối với giai cấp nông dân nói riêng.
Trên địa bàn tỉnh Cà Mau, Mỹ-Ngụy chủ yếu tăng cường thêm cố vấn quân sự Mỹ với phương tiện chiến tranh hiện đại và trang bị binh khí kỹ thuật cao để yểm trợ các cuộc hành quân càn quét, tái lấn chiếm vùng vùng giải phóng. Chúng dựng lại hệ thống đồn bót và khu tập trung dân, tăng cường bộ máy kềm kẹp, bắt lính đôn quân để tiến hành kế hoạch “Bình định” nông thôn. Nhân dân trong tỉnh, nhất lực lượng nông dân cuộc sống gặp nhiều khó khăn trong sản xuất, nhưng nông dân ở xã, ấp vẫn vượt qua bom đạn thi đua sản xuất, đóng góp lúa đảm phụ nuôi quân mỗi năm hàng vạn giạ lúa; xây dựng hậu phương vững chắc cung cấp cho chiến trường.
Quán triệt tư tưởng chỉ đạo chiến lược của Trung ương, Tỉnh ủy Cà Mau chỉ đạo các địa phương phát huy sức mạnh tổng hợp 3 mũi giáp công, liên tục tiến công và nổi dậy tiêu hao tiêu diệt nhiều sinh lực địch, ra sức diệt ác phá kềm, mở rộng quyền làm chủ của nhân dân. Các xã đã huy động hàng triệu lượt người, hầu hết là nông dân tham gia phát triển sản xuất, đóng góp đảm phụ giải phóng, động viên con em lên đường xây dựng bộ đội chủ lực, địa phương quân và du kích. Phong trào xây dựng ấp xã chiến đấu phát triển mạnh mẽ và đều khắp. Hàng vạn lượt nông dân tham gia đào kinh chống Mỹ, những con kinh dài cả chục ki-lô mét, tạo đường vận chuyển liên hoàn giữa các huyện từ vùng rừng đước Năm Căn đến rừng tràm U Minh. Hàng ngàn thanh niên nam, nữ con em của nông dân hăng hái lên đường tòng quân, xây dựng lực lượng vũ trang và dân quân du kích.
Tháng 6 năm 1965, địch dùng máy bay chiến lược B52 rải bom xuống khu vực chính bộ, huyện Trần Văn Thời, làm chết và bị thương trên 100 người. Đây là trận máy bay chiến lược B52 của Mỹ rải bom đầu tiên ở miền Tây Nam Bộ. Qua trận rải bom hủy diệt của Mỹ, số người chết rất nhiều làm ảnh hưởng đến tinh thần lo lắng của nhân dân nói chung, của nông dân khu vực xã Khánh Hưng, huyện Trần Văn Thời nói riêng. Sau trận địch rải bom B52, ta củng cố lực lượng đoàn thể, nhất là nông dân về tinh thần yên tâm trong sản xuất và chiến đấu. Vì trong năm 1965 đầu năm 1966, nhân dân trong tỉnh tham gia trên 112.000 lượt người xây dựng ấp, xã chiến đấu, đào 55.226 hầm chông, cấm 244 bãi với 1.387 đạp lôi và đào 19.854 công sự chiến đấu ở xóm, ấp; song song với phong trào xây dựng ấp, xã chiến đấu, ta còn tổ chức nhân dân phá lộ, hàn cản, ngăn chặng giao thông địch, bảo vệ hậu phương kháng chiến. Đặc biệt là Tỉnh ủy chủ trương đẩy mạnh công tác của Hội Nông dân Giải phóng, chăm lo đời sống của hội viên nông dân, tiếp tục trang trải ruộng đất cho nông dân sản xuất; đồng thời phát động trong nông dân chống địch phá hoại kinh tế ở vùng giải phóng của ta. Từ đó phong trào sản xuất đã khắc phục được nhiều khó khăn (Địch đánh buổi sáng ta tranh thủ sản xuất buổi chiều, địch đánh ban ngày, nông dân sản xuất ban đêm), thậm chí nông dân một số huyện địch đóng nhiều đồn bót sản xuất trong tầm pháo của địch, dù địch đánh phá như thế, bà con nông dân trong tỉnh cũng tìm mọi cách để sản xuất đảm bảo hạt lúa nuôi quân. Từ đó phong trào sản xuất chiến đấu của nông dân trong tỉnh trong những năm 1965, 1966 và 1967 phát triển khá mạnh, nhiều xã vượt chỉ tiêu giao trong đóng góp đảm phụ như: các xã Quách Văn Phẩm, Khánh Bình Đông, Khánh Tiến, Phong Lạc, Khánh Lâm...
Phong trào vận động tòng quân, Hội Nông dân kết hợp các đoàn thể đi đến từng gia đình và tổ chức hội họp bà con nông dân, tuyên truyền giáo dục tinh thần yêu nước cho tuổi trẻ và gia đình có con em trong độ tuổi thanh niên. Vì thế phong trào tòng quân chuyển biến, có những nơi phát động trở nên rầm rộ thanh niên lên đường cứu nước. Đặc biệt là vào năm 1965, Tỉnh đã thành lập đội “Thanh niên xung phong” con em của lực lượng tham gia mạnh mẽ. Phong trào tòng quân giết giặc lập công, đã diễn ra sôi nổi trong những năm 1965, 1966 đã có hơn 10.000 thanh niên tòng quân. Tỉnh bổ sung cho quân khu và Trung ương cục 3.000 tân binh. Đây là những năm tỉnh nhà đưa lực lượng thanh niên đi tòng quân nhiều nhất.
Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, tăng cường sản xuất, đảm bảo công tác đảm phụ để nuôi quân, trong khi chiến tranh ngày càng ác liệt, nhưng nông dân vùng giải phóng, vùng tranh chấp vẫn khắc phục khó khăn để sản xuất, xây dựng đời sống. Năm 1967, nông dân canh tác hơn 85.243 ha lúa, 13.590 người tham gia vào tổ, tập đoàn vần đổi công. Các mặt văn hóa, xã hội cũng có những bước tiến mới, tỉnh, huyện có bệnh viện, xã nào cũng có trạm xá để chăm sóc sức khỏe nhân dân. Nhân ngày lễ, những buổi míttinh có đoàn văn nghệ của tỉnh hoặc huyện, xã phục vụ. Các xã giải phóng cất thêm 50 trường học mới, sửa chữa thêm 76 điểm học (bình dân học vụ, có 1.500 người đi học). Những thay đổi ở vùng giải phóng trên các mặt, đã tạo ra một không khí phấn khởi, tin tưởng thi đua giữa hậu phương và tiền tuyến.
Công tác tuyên truyền do các Đoàn thể làm nòng cốt, lực lượng đông đảo, nhất là hội viên nông dân. Mặc dù không phải là lực lượng chuyên nghiệp, nhưng thường xuyên được tổ chức học tập, biết cách tuyên truyền vận động, biết vận dụng lý lẻ tuyên truyền cho các loại đối tượng và ở mọi lúc, mọi nơi nên giúp cho ta nắm được qui luật hoạt động của địch.
Các lực lượng vũ trang cách mạng, trong chiến đấu kết hợp làm công tác tuyên truyền binh sĩ địch, chủ yếu bằng thư từ (sử dụng tương ứng với chức vụ để gửi thư kêu gọi), như: đồng chí Huỳnh My gởi thư cho tên Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng 446 bảo an, hoặc với danh nghĩa Tỉnh Đội trưởng gởi thư cho tên Trung tá Tiểu khu trưởng An Xuyên… các chiến sĩ lực lượng vũ trang kết hợp tuyên truyền chính sách khoan hồng đối với tù, hàng binh để gọi địch hàng, trong các trận chiến đấu chống càn hoặc công đồn.
Ngoài ra còn sử dụng một số ít người làm nghề “tướng số, đoán tử vi” để tác động những tên ác ôn mê tín dị đoan, nhằm tranh thủ hạn chế hành động tội ác của chúng. Ta còn động viên chức sắc các tôn giáo viết thư tranh thủ binh lính, sĩ quan có đạo rất kết quả. Công tác binh vận ta vận động mọi lực lượng, nhất là lực lượng nông dân rất có hiệu quả. Bởi vì lực lượng nầy thường ra vào xát bên đồn địch và cùng là thân nhân binh lính bị bắt binh dịch, cho nên tỉnh phát động công tác binh vận trong các tầng lớp nông dân, lấy là lực lượng hội viên nông dân làm nòng cốt.
Công tác binh vận ở tỉnh Cà Mau có trên 500 cơ sở nội tuyến; huyện có cơ sở nhiều nhất là Thới Bình 133, Châu Thành 92, Ngọc Hiển 64, Trần Văn Thời 58, Cái Nước 54, thị xã Cà Mau 42… những cơ sở này có nhiều đối tượng móc nối, nhưng lực lượng Nông dân, Phụ nữ tham gia rất tích cực đã đem lại nhiều kết quả góp phần tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Ngoài ra, còn có trên 1.000 lực lượng cảm tình, do gia đình móc nối giáo dục, giao lại cho cơ sở binh vận nắm và sử dụng. Số này ta xây dựng gia đình làm mật giao để liên hệ thường xuyên. Hầu hết cơ sở ta cài vào nội tuyến và số tù binh sĩ địch được ta tuyên truyền giáo dục bắt, nối xây dựng thành cơ sở thì rất trung thành. Có trường hợp nội tuyến trước khi hành động khởi nghĩa viết thư bằng máu gởi cho Đảng hứa quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Tuy nhiên, trên mặt trận chiến đấu thầm lặng này cũng có số ít cơ sở ta nắm được nhưng do địch cài lại và ta mất cảnh giác nên đã xảy ra trên 20 vụ phản vận gây nhiều thiệt hại cho ta. Ngoài ra một số cán bộ của ta cài vào chính quyền địch từ quận trở xuống, có một số bị chuyển hóa, biến chất dần dần trở thành phản động, ác ôn, như: Tên Khá Già ở Trí Phải, tên Xã Hoài ở Tân Lộc, tên Thu gà lôi ở Khánh An, tên Hoàng ở Hưng Mỹ, tên Ngô Cừ ở Thới Bình v.v….
Sử dụng nội tuyến đánh vào hậu cứ địch gây tiếng vang lớn, điển hình nhất là cơ sở nội tuyến Lâm Văn Chưởng (Trung Kiên) được đồng chí Phạm Văn Ký (Tư Tạo) Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Bí thư thị xã Ủy trực tiếp giao nhiệm vụ, bằng mọi cách đánh cho được bọn bình định nông thôn và bọn chiêu hồi. Ngày 13 tháng 12 năm 1966, địch tập hợp bọn chiêu hồi tại Hội quán Thanh niên(để thành lập 2 Trung đội vũ trang tuyên truyền chiêu hồi (gồm những bọn đi ra đầu hàng địch). Đồng chí Chưởng đánh trái nổ chậm, làm chết và bị thương 75 tên. Nổi bật: Đồng chí Nguyễn Văn Minh, là một cơ sở nội tuyến sau khi khởi nghĩa diệt đồn Trung đội dân vệ Kinh Năm Tân Phú, không bị lộ, ta điều sang đơn vị khác. Minh liên tiếp khởi nghĩa và làm nội ứng diệt 2 đồn Trung đội bảo an. Vẫn chưa lộ, Minh được ta “Đôn lên” quân đội chủ lực. Lần này Minh nhận nhiệm vụ khởi nghĩa diệt Ban Chỉ huy Trung đoàn bộ Trung đoàn 33 sư 21. Bị địch phát hiện, Minh được điều động ra ngoài tiếp tục hoạt động và sau một thời gian đồng chí dũng cảm hy sinh. Nội tuyến Lê Tấn Bỉ bằng sự khôn khéo, mưu trí của người chiến sỹ cách mạng trên mặt trận thầm lặng, đồng chí giữ vững vị trí trong lòng địch chiến đấu đến trận thứ tư mới bị lộ, đồng chí được điều động chuyển ra an toàn và tiếp tục công tác. Bốn cơ sở nội tuyến: Hai Ngoan, Mười Hùng, Hai Vi, Hai Huấn thuộc trung đội Yên Bái A ở đồng Kinh Hai Ngó, huyện Thới Bình đã vận động toàn Trung đội nổi dậy khởi nghĩa... Đồng chí Tám Minh là nội tuyến đã tranh thủ được 16 cơ sở cảm tình, lần đầu tiên khởi nghĩa cấp đại đội đồn năm Xứng xã Thới Bình, đại đội 444 bảo an tiểu khu An Xuyên bị xóa phiên hiệu.
Vào cuối năm 1967, cuộc chiến tranh cục bộ của Mỹ đã đẩy đến đỉnh cao, quân Mỹ đổ vào miền Nam tăng lên đến 48 vạn, vượt quá mức dự kiến của chiến lược Chiến tranh Cục bộ và sử dụng đến lực lượng dự bị chiến lược “Phản ứng linh hoạt” khiến cho Mỹ khó có khả năng đối phó với các cuộc nổi dậy ở các nơi khác trên thế giới.
Hội nghị Trung ương tháng 12 năm 1967 đề ra nghị quyết chuyển cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam sang thời kỳ mới, thời kỳ tiến lên giành thắng lợi, quyết định bằng phương pháp “Tổng công kích, tổng khởi nghĩa”.
Chấp hành lệnh “Tổng công kích, tổng khởi nghĩa” của Trung ương và của Khu ủy miền Tây, Tỉnh ủy Cà Mau đã tập trung các lực lượng vũ trang trong tỉnh và huy động hàng chục vạn nhân dân, đông đảo nhất là nông dân tham gia vận chuyển vũ khí, lương thực, thực phẩm tiếp tế chiến trường, phục vụ tải thương, đào công sự chiến đấu. Vào lúc 0 giờ (không giờ) đã đồng loạt tiến công vào thị xã Cà Mau, lực lượng vũ trang ta nã pháo vào các mục tiêu: Tòa hành chánh, tiểu khu, sân bay, kho tàng của địch và các cứ điểm, đồn bót trong nội ô thị xã. Lực lượng bộ binh đánh chiếm bót Thầy Giàu, tiến công trại Phạm Ngũ Lão và một số cứ điểm quân sự quan trọng của dịch.
Các đội vũ trang tuyên truyền đột nhập vào các phường 4, 12, phường 8 và phường 9, tuyến kinh xáng Phụng Hiệp v.v… phát động hàng vạn quần chúng nổi dậy diệt ác, phá tề, giành quyền làm chủ. Ở nhiều nơi, nhân dân phá các cơ quan Hội đồng hương chính xã, giải tán nhiều ban tề ấp; phá tan nhiều “Ấp chiến lược” của địch ở ven thị xã, vận động quần chúng trở về ruộng vườn cũ sản xuất và chiến đấu.
Cuộc tiến công và nổi dậy đầu xuân Mậu Thân 1968(1) của quân dân Cà Mau đã giáng cho địch một đòn bất ngờ choáng váng làm tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận lớn sinh lực và phương tiện chiến tranh, nhiều kho tàng bị phá hủy; hệ thống kềm kẹp của địch bị phá rã, phá lỏng nhiều nơi. Hàng vạn quần chúng đã trở về ruộng vườn cũ. Đợt Tổng tiến công và nổi dậy lần thứ hai và các tấn công tiếp theo, ta đã bị thiệt về quân sự, ảnh hưởng không nhỏ đến quân số của các đơn vị. Dù Tết Mậu Thân 1968, ta có tổn thất về vũ trang, nhưng với tinh thần cách mạng tiến công, ta đã loại ngoài vòng chiến đấu của địch khá lớn, góp phần cùng quân dân toàn miền Nam đánh vào xào huyệt địch “Một đòn sét đánh” làm phá sản “Chiến tranh Cục bộ” của địch, làm lung lai ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh, giải phóng đồng bào ra khỏi sự kềm kẹp của địch, trở về ruộng vườn...
Sau đợt tấn công trong tết Mậu Thân, ta chưa có chủ trương chuyển hướng kịp thời, để khắc phục những tổn thất trong tổng tiến công đợt hai và đợt ba. Lúc này ta chỉ đạo nặng tiến công vào thị xã, thị trấn, buông lỏng vùng nông thôn giải phóng. Do đó, sau khi địch “Hoàn hồn” mở chiến dịch “Tràn ngập lãnh thổ”, “Bình định cấp tốc” chiếm lại những vùng nông thôn đã mất. Ta bị động đối phó, địch chiếm đóng lại 19 xã trong tỉnh, tinh thần tâm trạng cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân (trong đó có nông dân) bải oải, thiếu tin khả năng tiến công tiếp vào thị xã, thị trấn.
Trước tình hình trên, Tỉnh ủy Cà Mau mở hội nghị cán bộ chủ chốt toàn tỉnh để đánh giá lại tình hình. Cuộc tập kích chiến lược xuân Mậu Thân 1968 đã giành được thắng lợi to lớn, có ý nghĩa chiến lược trong tiến trình phát triển của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam. Đó là thắng lợi của quân, dân miền Nam, đã đánh bại chiến lược “Chiến tranh Cục bộ” của Mỹ, làm cho ý chí xâm lược của chúng bị lung lay mạnh. Thế chiến lược của Mỹ bị đảo lộn, buộc phải thay đổi chiến lược quân sự ở miền Nam, phải chịu xuống thang chiến tranh, chấm dứt không điều kiện cuộc chiến tranh phá hoại ở miền Bắc và chấp nhận cuộc đàm phán với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam tại Paris.
Cuộc chiến đấu của quân dân Cà Mau, nằm trong cục diện chiến trường chung đang phát triển có nhiều thuận lợi mới, phát huy tư tưởng chiến lược tiến công, nhất định sẽ giành được nhiều thắng lợi mới.
CHƯƠNG VI
NÔNG DÂN CÀ MAU GÓP PHẦN ĐÁNH BẠI CHIẾN LƯỢC
“VIỆT NAM HÓA CHIẾN TRANH”, GIẢI PHÓNG MIỀN NAM
(1969 - 1975)
I. GÓP PHẦN LÀM THẤT BẠI “VIỆT NAM HÓA CHIẾN TRANH”
Sau khi Mỹ thất bại “Chiến tranh Cục bộ”, chúng chuyển sang chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” để tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới ở miền Nam dưới dạng dùng “Người Việt đánh người Việt” bằng sự chỉ huy của Mỹ và tiếp tục mở rộng chiến tranh sang Lào và Camphuchia.
Tại chiến trường Cà Mau, địch bắt lính ồ ạt, đưa trung đoàn 32, thuộc sư đoàn 21 về chốt ở thị xã Cà Mau hỗ trợ quân địa phương. Cuối năm 1968, địch triển khai lực lượng dùng chiến thuật “Hạm đội nhỏ trên sông” và quân biệt kích Mỹ đóng chốt tại căn cứ Năm Căn. Chúng thường xuyên cho tàu hoạt động trên sông Cửa Lớn, Bồ Đề, Rạch Gốc v.v… chia cắt vùng rừng đước ra 2 mảng để càn quét, biệt kích, tìm diệt các cơ quan trong khu căn cứ rừng đước. Đầu năm 1969, địch mở chiến dịch “Nhổ cỏ U Minh” lần thứ nhất, sử dụng cả máy bay B.52 ném bom rải thảm nhiều xã từ Khánh Lâm, Nguyễn Phích đến Khánh Bình Đông, Khánh Bình Tây… cho trực thăng đổ quân đánh phá chà đi xát lại nhiều lần trên phạm vi các xã vùng U Minh hạ.
Tháng 9 tháng 1969, quân dân Cà Mau đang tập trung đánh phá chiến dịch “Nhổ cỏ U Minh” và chiến thuật “Hạm đội nhỏ trên sông” của địch ở Năm Căn. Bất ngờ được tin đau thương như sét đánh Bác Hồ kính yêu đã từ trần, Đảng bộ, quân dân Cà Mau cùng cả nước tổ chức tuần lễ truy điệu thọ tang Bác. Bà con nông dân nhiều nơi lập bàn thờ trong gia đình, đốt hương tưởng niệm Bác hàng ngày. Hàng chục vạn nông dân Cà Mau dự lễ truy điệu thọ tang Bác và hứa hẹn trước vong linh của người“Biến đau thương thành hành động cách mạng, lập công đền ơn Bác”; hàng chục ngàn lượt nông dân các xã Trí Phải (Thới Bình), Tân Hưng Đông, Hưng Mỹ (Cái Nước), Tân Ân, Viên An (Ngọc Hiển) đã đốn cây lá địa phương, xây cất hàng chục Phủ thờ Bác. Nơi nào có Phủ thờ Bác, bà con đã bầu Ban quản trị để có kế hoạch chăm sóc và bảo vệ không để cho địch vào đốt phá; bà con Cà Mau cất Phủ thờ Bác trong bom, pháo ác liệt của địch.
Những nơi có Phủ Thờ Bác, đã trở thành điểm sinh hoạt văn hóa của địa phương, vì thế các hoạt động của Chi bộ, đội vũ trang thường xuyên đến Phủ thờ Bác để kính viếng, đồng thời cũng đến để hứa với Bác hoàn thành nhiệm vụ của mình. Như đội săn tàu khi đi đến đốt nhang cho Bác và chiến thắng về đốt nhang, báo tin vui với Bác...
Đúng là:
“Đền thờ Bác rừng che phủ kín
Đã trở thành điểm hẹn báo công
Khi xuất trận: nguyện thề với Bác
Thắng trận về báo Bác: mừng công”
(Viếng đền thờ Bác – Hữu Thành)
Đầu năm 1970, địch mở chiến dịch “Nhổ cỏ U Minh” lần thứ hai. Chúng tập trung thủy - lục - không quân đánh phạm vi rộng lớn từ U Minh thượng đến U Minh hạ. Quân số đưa vào mở chiến dịch này gồm Sư đoàn 21 ngụy, 2 Lữ đoàn biệt động quân, 25 Tiểu đoàn và 7 Liên đội bảo an, một bộ phận lực lượng Sư đoàn 9 và 4 giang đoàn, một chi đoàn xe bọc thép M.113. Trong chiến dịch này địch đã thực hiện được ý đồ chiếm đóng lại hầu hết các điểm đồn bót bị mất trước đây trên tuyến sông Cái Tàu gồm 3 xã (Khánh Lâm, Khánh An, Nguyễn Phích), lấn chiếm hết tuyến sông Trẹm. Quân bảo an của tiểu khu và các chi khu lấn chiếm các xã phía Bắc và phía Nam thị xã Cà Mau, làm cho sản xuất của nông dân ở vùng giải phóng gặp nhiều khó khăn. Chúng dùng các hỏa lực đánh phá ngày đêm, làm cho người nông dân không yên tâm trong sản xuất. Trong thời điểm địch bình định nông thôn, nông dân cày cấy dưới bom đạn địch. Có những khu vực của xã Khánh Lâm, Khánh An, địch cho máy bay các loại oanh kích cả ngày lẫn đêm, nên sản xuất gặp nhiều khó khăn thậm chí không cấy, hái được; đồng thời còn đưa quân đi càn chà đi xát lại nhiều lần trong khu vực nông dân sản xuất.
Trong lúc thực hiện chiến dịch “Nhổ cỏ U Minh”, địch còn huy động lực lượng hải - lục - không quân đánh phá các xã khu vực rừng đước lần thứ nhất giữa năm 1969 và lần thứ hai đánh vào các xã thuộc huyện Đầm Dơi vào đầu năm 1971. Chúng tái chiếm đóng hết các điểm đồn bót bị mất ở vùng mới giải phóng thuộc huyện Đầm Dơi, Ngọc Hiển. Đến giữa năm 1971, địch tái chiếm và đóng thêm đồn bót trong 19/22 xã được giải phóng, tô dày thêm đồn bót 7/11 xã giải phóng cơ bản. Đây là thời kỳ địch tái chiếm lại đồn bót khá nhiều trong tỉnh.
Về ta, cuối năm 1969 Trung ương Cục ra Nghị quyết 01 về chuyển hướng chỉ đạo chiến lược; nhanh chóng khắc phục hậu quả sau tết Mậu Thân, tập trung 3 mũi chống “Bình định” các cấp; củng cố 3 thứ quân đủ mạnh; bám trụ vùng ven, ấp chiến lược, củng cố và xây dựng cơ sở, nắm dân giành quyền làm chủ; tích lũy lực lượng chuẩn bị cho giành thắng lợi bước sau. Khu ủy khu 9, ra nghị quyết số 04 chỉ đạo thực hiện Nghị quyết số 01 Trung ương Cục. Thường vụ Khu ủy đã ban hành chỉ thị 04 chỉ đạo công tác binh vận trong thời kỳ phát triển mới của cách mạng được học tập triển khai rộng rãi, trong đó có các đối tượng của nông dân.
Quán triệt nghị quyết của trên, Tỉnh ủy Cà Mau chủ trương: Ra sức củng cố và tăng cường lực lượng 3 mũi chống “Bình định” lấn chiếm, tổ chức đánh hậu cứ để kềm chân địch, chọn một số đồn bót đưa 3 mũi bao vây tiêu hao sinh lực địch, tạo điều kiện mở lỏm, mở mảng, giành quyền làm chủ, giữ thế cài răng lược với địch. Cán bộ chính trị, binh vận các cấp tổ chức bám trụ tại địa bàn, gây dựng củng cố tổ chức cơ sở.
Năm 1969, Trung đoàn 32 và liên đoàn biệt động quân của địch kết hợp với pháo binh, tiến hành “Bình định” ở Nam Cà Mau (Cái Nước và Đầm Dơi), chúng tập trung mọi hỏa lực, nhất là pháo binh. Mỗi lần hành quân địch bắn từ 2.000 đến 5.000 quả pháo của các cứ điểm và từ ngoài biển (hạm đội) bắn vào làm cho mật độ bom đạn ở chiến trường Nam Cà Mau rất ác liệt; đồng thời chúng còn dùng máy bay AD6 và các loại máy bay vũ trang đánh liên tục vào các vùng giải phóng, vùng căn cứ của ta, làm ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp của nhân dân trong tỉnh.
Tại chiến trường Cà Mau, trong 2 năm 1969 – 1970, địch mở 4.887 cuộc càn quét lớn nhỏ, có 5 cuộc với qui mô lớn cấp Trung đoàn, có sự yểm trợ của không quân và pháo binh. Càn quét đến đâu, bộ binh địch phá hoại, hủy diệt những gì máy bay chưa phá hủy, mục đích “Xúc dân”, gom dân vùng giải phóng ra vùng kiểm soát(1), nhằm thực hiện ý đồ “Bình định cấp tốc” của Mỹ - Ngụy. Vì thế, chúng nhanh chóng càn quét, đi đến đến đâu dựng đồn bót đến đó; tăng cường bộ máy tề, điệp; tổ chức biệt kích, thám báo; tiếp tục tổ chức phòng vệ quân sự, bắt lính, đôn quân; xây dựng lực lượng bọn bảo an, đóng các đồn bót để kềm dân. Vì thế số đồn, bót của địch đóng ở tỉnh Cà Mau lên đến 400 đồn (so với trước năm 1968 tăng gấp 7 lần). Vùng giải phóng trước đó có 18 xã và huyện được giải phóng cơ bản, nhưng sau năm 1968 đến năm 1971 chỉ còn có 3 xã giải phóng, đây là thời kỳ cực kỳ khó khăn của Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh nói chung, nông dân tỉnh nhà nói riêng.
Trước tình hình đó, Tỉnh ủy đã thành lập Ban chỉ đạo “Đánh bình định” tập trung bẻ gẫy các kế hoạch của chúng; đồng thời vừa đánh địch, vừa xây dựng thực lực, nhất là 3 thứ quân (chủ lực, địa phương quân và dân quân du kích); phát huy 3 mũi tấn công; xây dựng hậu phương (vùng giải phóng) ngày vững chắc để kịp thời cung cấp người của cho chiến trường để đánh và thắng địch, quyết tâm đánh bại “Chiến thuật Hạm đội nhỏ trên sông” của chúng. Trên địa bàn các huyện Duyên Hải, Trần Văn Thời, Thới Bình, Cái Nước trong 3 tháng của năm 1970 đã bắn chìm và cháy (hỏng) 240 tàu chiến lớn nhỏ, diệt trên 2.900 tên (trong đó cả trăm tên Mỹ). Đây là năm diệt tàu địch nhiều nhất trong kháng chiến chống Mỹ. Có những trận ta diệt hằng chục chiếc, có những ngày ta đánh 5 - 6 trận ...”(2)
Trong những năm 1972 - 1973, trên địa bàn tỉnh Cà Mau Mỹ - Ngụy tiến hành chiến dịch “Tràn ngập lãnh thổ”, tăng cường lực lượng các binh chủng (thủy - lục - không quân) và phương tiện chiến tranh (kể cả máy bay chiến lược B.52) đánh phá ác liệt vào vùng giải phóng, khu căn cứ địa cách mạng ở khu vực rừng tràm U Minh hạ, rừng đước Năm Căn… nhằm tiêu diệt các cơ quan lãnh đạo kháng chiến của tỉnh và của Khu tây nam bộ; đồng thời ngăn chặn đường tiếp tế vũ khí từ đất Mũi đi các tỉnh ở Nam bộ.
Quân dân Cà Mau nói chung và lực lượng nông dân nói riêng, do Hội Nông dân các cấp làm nòng cốt, huy động sức mạnh tổng hợp 3 mũi giáp công, bao vây hàng trăm đồn bót địch (chủ yếu là các đồn chiếm đóng sâu trong nông thôn). Chỉ trong một thời gian ngắn ta đã bức rút 42 đồn, trong đó huyện Đầm Dơi và Trần Văn Thời 31 đồn. Quân dân Thới Bình bao vây bức rút căn cứ Kinh Tám Ngàn (chốt điểm quân chủ lực xây dựng tại đây để bình định vùng U Minh). Xã Tân Lộc (huyện Thới Bình) chọn một số cơ sở nội tuyến trong các đồn dân vệ phát động nổi dậy khởi nghĩa. Lực lượng khởi nghĩa trở về, ta thành lập một Đại đội lấy danh nghĩa là “Đại đội khởi nghĩa”. Đại đội quân khởi nghĩa công bố chương trình hành động và tổ chức nhiều cuộc vũ trang tuyên truyền, phóng thanh vào các đồn bót kêu gọi binh sĩ đứng lên khởi nghĩa trở về với cách mạng; sau vài ngày đã có thêm 3 đồn khác tháo chạy. Đây là thời điểm tỉnh Cà Mau giải phóng cơ bản nhiều xã trong tỉnh, vùng giải phóng được mở rộng, ta lấn sát ven thị trấn và sát các đồn bót còn lại. Địch lâm vào thế bị bao vây cô lập.
Trong thời điểm này, sự kiện lịch sử trọng đại của quân dân miền Nam là Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra đời. Sau đó, Ủy Ban nhân dân cách mạng tỉnh Cà Mau được thành lập do ông Nguyễn Minh Đức làm chủ tịch, ông Trần Hữu Vịnh ủy viên thơ ký, cùng nhiều thành viên khác đã ra mắt hàng vạn đồng bào tại ấp Cái Rắn, xã Phú Hưng, huyện Cái Nước.
Nông dân khắp nơi trong tỉnh háo hức thi đua dồn sức người, sức của ra phía trước với quyết tâm của toàn Đảng bộ và quân dân ta, tự lực xông lên giải phóng tỉnh nhà. Hàng 100 thanh niên, con em của nông dân tự nguyện lên đường vào bộ đội chủ lực. Hàng ngàn lực lượng trai trẻ khác vào bộ đội địa phương và dân quân du kích. Mọi cán bộ, đảng viên và chiến sĩ, mỗi người, mỗi nhà đều hạ quyết tâm bằng hành động cụ thể ghi vào sổ vàng truyền thống của địa phương, hoàn thành nhiệm vụ của mình góp phần giải phóng hoàn toàn tỉnh nhà. Lúc bấy giờ có phong trào nông dân thi đua “Dập pháo” tính giá trị bằng lúa; mỗi trái lựu đạn, mỗi trái pháo có giá trị tương ứng từ 5 giạ lúa đến 50 giạ lúa. Có nhiều gia đình nông dân (trung nông) đăng ký đóng góp “Dập” hàng chục quả lựu đạn, có gia đình “Dập” 5 - 7 trái đạn pháo… Phong trào này được Hội Nông dân giải phóng phát động, đa số các gia đình nông dân đã tham gia tích cực đem lại nhiều hiệu quả.
II. KHẮC PHỤC KHÓ KHĂN, TIẾN LÊN GIẢI PHÓNG QUÊ HƯƠNG
Trên chiến trường chung, Mỹ - Ngụy càng thất bại nặng nề. Ở Cà Mau, địch thất bại sau mùa khô 1972 bắt đầu co cụm phòng thủ các cứ điểm còn lại. Tuyến sông Cái Tàu còn cứ điểm Rạch Bà Thầy, Khai Quang. Tuyến Bảy Háp, địch co cụm ở cứ điểm Chà Là, Cái Keo. Phía Bắc Cà Mau, địch tăng cường quân bảo an lấn vô cầu số 3 Tân Lộc, xây dựng cứ điểm làm áng ngữ cho thị xã Cà Mau. Nam Cà Mau chúng rút một số đồn bót trên tuyến lộ Cà Mau - Nhà Phấn. Trung đoàn 32 thuộc sư đoàn 21 ngụy tăng cường về thị xã Cà Mau để phòng thủ và liên tục càn quét vùng ven thị xã để trấn an quân chiếm đóng.
Quán triệt chủ trương của Trung ương Cục và Quân khu 9, về phát huy thắng lợi xuân - hè 1972, thừa thắng xông lên tiếp tục tấn công địch bằng 3 mũi giáp công, không để chúng có thời gian gượng lại. Ta tập trung giành thế mạnh trên chiến trường để buộc Mỹ - Ngụy phải ký hiệp định Paris. Tỉnh ủy Cà Mau chủ trương: Tập trung đánh mạnh tiêu diệt và làm tan rã đại bộ phận quân ngụy, góp phần đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” để quân dân Cà Mau làm tròn trách nhiệm đối với cả nước “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Các cấp Đảng bộ vừa kiên quyết giữ vững vùng giải phóng, vừa đẩy mạnh tiến công 3 mũi, mở mảng giải phóng thêm nhiều vùng. Trước khi Hiệp định Paris có hiệu lực, phải tung lực lượng áp sát các đồn bót, cắm cờ, giữ đất, giành dân, chuẩn bị lực lượng sẵn sàng phối hợp với chiến trường chung giành thắng lợi cao nhất. Với tư tưởng chiến lược tiến công, hàng vạn lực lượng nông dân trong tỉnh xuống đường, bao vây tiến công nhiều đồn bót địch trong tỉnh. Những đồn bót bị ta bao vây tiến công gây thiệt hại nặng, tinh thần binh sĩ địch hoang mang cao độ, thì ta đưa gia đình binh sĩ làm mũi nhọn đột phá, tranh thủ vận động đầu hàng như: đồn Cai Hựu, đồn Xóm Ruộng (Đầm Dơi), Đồng Sậy Ngọn, đồn Cầu số 4 xã Tân Lộc (Thới Bình), đồn Trảng Cò Ngọn, đồn Rạch Lùm, Rạch Ruộng (Trần Văn Thời)…
Trước giờ Hiệp định có hiệu lực, một số đồn bảo an nông ra càn quét, đánh xỉa, bị lực lượng du kích đẩy lùi và bao vây áp sát đồn. Các đội vũ trang tuyên truyền dùng máy phóng thanh kêu gọi binh sĩ địch đầu hàng. Lực lượng ta tiến sát tới đâu cắm cờ Mặt trận tới đó, để biểu thị sức mạnh của vùng giải phóng rộng lớn, dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam.
Hòa nhịp với chiến trường chung, từ cuối năm 1973(1) đến đầu năm 1974, ở miền Tây địch thất bại nặng nề tại mặt trận Chương Thiện, trung đoàn 33 (thuộc Sư đoàn 21) chủ lực bị tiêu diệt cơ bản ở Vĩnh Tuy; sư đoàn 21 bị điều đi chi viện mặt trận Bình Long.
Tại Cà Mau, Trong những ngày thực hiện Hiệp định Paris, Tỉnh ủy đã chỉ đạo là đưa lực lượng của ta ra sát đồn bót giặc, nhất là khu vực địch quản lý để cắm cờ Mặt trận Giải phóng trong khu vực quản lý, đồng thời liên hệ với địch để thực hiện Hiệp định, đặc biệt Mặt trận, các Đoàn thể, nhất là lực lượng nông dân liên hệ, kêu gọi con em và binh sĩ ngụy chấp hành điều khoản của Hiệp định và quay súng trở về với cách mạng. Các tổ chức đoàn thể (nông dân, phụ nữ) cử lực lượng của ta ra trực tiếp tranh thủ với địch bằng con đường quen biết, thân nhân, bằng nhiều hình thức đưa thư từ, liên hệ ra vùng giải phóng. Đặc biệt nông dân ở vùng ven (gần đồn địch) tăng cường công tác binh vận, vận động ngụy quân, ngụy quyền thực hiện theo Hiệp định và lồng vào tố cáo những tên gây tội ác bắn giết dân thường để phân hóa quân địch. Ở các tuyến Bảy Háp, Hòa Thành, sông Ông Đốc, Cái Tàu, Tân Lộc… bà con ta cắm cờ sát đồn giặc, tranh thủ giành đất với địch. Trong lúc này, ta phát huy mạnh 3 mũi giáp công (quân sự, chính trị, binh vận).
Năm 1974, thế và lực của ta phát triển, các tổ chức đoàn thể, nhất là nông dân đã tích cực đóng góp sức người, sức của cho giải phóng miền Nam. Tin vui thắng trận ở khắp chiến trường đã động viên rất lớn cho nhân dân ta nói chung, cho nông dân trong tỉnh nói riêng. Với tinh thần cách mạng “Tất cả cho tuyền tiến”, tích cực cho giải phóng miền Nam. Vào thời điểm thứ hai là đầu năm 1975, toàn bộ miền Trung đã được giải phóng, ta lấn sát và mở hướng tiến công vào Sài Gòn.
Trên địa bàn Cà Mau, lực lượng vũ trang ta đã tiến công liên tục, đồng thời kết hợp với 168 cơ sở nội tuyến và cảm tình nổi dậy khởi nghĩa, diệt 59 đồn bót, loại khỏi vòng chiến đấu 1.340 tên địch, trong đó có 763 tên đầu hàng. Nhiều nhất là huyện Cái Nước khởi nghĩa và nội ứng diệt 19 đồn. Thị xã Cà Mau diệt 11 đồn, Thới Bình diệt 11 đồn. Khởi nghĩa và kết hợp nội ứng đánh “Ngoài công sự” gần 30 trận diệt hàng ngàn tên địch. Đến đầu năm 1975, ta đã giải phóng hoàn toàn 28/38 xã. Mười xã còn lại giải phóng cơ bản. Địch hoàn toàn bị đẩy lùi vào thế phòng thủ co cụm lại các chi khu, thị trấn, thị xã.
PHẦN III
PHONG TRÀO NÔNG DÂN TRONG TỈNH CÙNG CẢ NƯỚC
XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI (1975 – 2000)
CHƯƠNG VII
PHONG TRÀO NÔNG DÂN CÀ MAU TRONG GIAI ĐOẠN
CẢ NƯỚC ĐỘC LẬP THỐNG NHẤT VÀ ĐI LÊN
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI (1975 – 1986)
I. TÌNH HÌNH CÀ MAU SAU NGÀY MIỀN NAM HOÀN TOÀN GIẢI PHÓNG (4/1975 – 10/1976)
Ngày 01 tháng 5 năm 1975, Cà Mau được hoàn toàn giải phóng, lực lượng của ta tiếp quản các khu địch quản lý; đồng thời tiến hành thực hiện những nhiệm vụ cấp bách là giữ gìn an ninh trật tự xã hội và đăng ký trình diện của ngụy quân, ngụy quyền và đưa những gia đình trước đó tránh né bom đạn trở về quê.
Sau giải phóng, thực hiện thông tri số 13 của Khu ủy về điều tra thống kê nhân lực, ruộng đất tại các tỉnh Nam bộ. Tại Cà Mau, tháng 5 và tháng 6/1975 đã tiến hành điều tra thống kê: số người có mặt tại chỗ 422.746 người (202.746 nam; 220.000 nữ); đất đang canh tác 119.796 ha; đất hoang hoá 55.341 ha; đất công điền 13.947 ha; đất lá 1.274 ha. Địa chủ 97 hộ, chiếm 1.271 ha; phú nông 402 hộ (3.009 khẩu) chiếm 3.254 ha; trung nông 39.082 hộ, 286.823 khẩu, chiếm 91.444 ha; cố nông 563 hộ (3.213 khẩu). Trâu, bò 11.000 con, máy cày 193 cái, máy bơm 620 cái, ghe xuồng 9.073 chiếc…
Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước đã là niềm khát vọng, đã bao năm sống trong chiến tranh, bom đạn, với biết bao gian khổ, hy sinh, cắt chia. Hoà bình về, ai cũng mong có một cuộc sống yên bình, phát triển, ổn định và hạnh phúc; trong đồng bào cũng có một bộ phận băn khoăn, lo lắng, lo bị cộng sản trả thù và lo bị tịch thu tài sản, như những tin tuyên truyền phản động của chế độ nguỵ trước đây… Những người đã đi lính ngụy, tham gia chính quyền ngụy trước đây, được chế độ mới tập trung học tập ít ngày rồi trở về sinh sống làm ăn với gia đình; những người rời bỏ quê ra chợ hoặc đến các vùng khác làm ăn, nay có một bộ phận quay về quê hoặc ổn định sản xuất và đời sống tại nơi cư trú.
Cà Mau nhanh chóng ổn định sản xuất và đời sống, nông dân đã khai hoang phục hóa mở rộng diện tích sản xuất được 115.749 ha, sản lượng lúa đạt 263.000 tấn đảm bảo nguồn lương thực cung cấp trong tỉnh và thực hiện nghĩa vụ với Trung ương, tình hình chính trị, trật tự cơ bản được giữ vững, văn hoá, xã hội bắt đầu có sự phát triển. Cùng với chính quyền, sửa chữa, xây cất mới các điểm trường học chuẩn bị tốt việc khai giảng năm học đầu tiên sau ngày giải phóng. Những năm đầu sau giải phóng giao thông đi lại chủ yếu bằng xuồng, người dân rất khó khăn về phương tiện đi lại và vận chuyển hàng hóa cả 2 mùa mưa nắng.
Các cấp chính quyền trong tỉnh đã nhanh chóng thành lập hệ thống các cửa hàng để cung ứng các mặt hàng nhu yếu phẩm. Nhìn chung, các mặt hàng thiết yếu như: xăng, dầu, gạo, thuốc chữa bệnh, xà bông, vải mặc không đủ bán. Chế độ phân phối bằng hiện vật theo định lượng hình thành. Những người buôn bán trước đây được vận động đi lao động sản xuất dẫn đến tình trạng mạng lưới dịch vụ kém, việc mua bán hàng hóa do nhà nước đảm nhiệm chỉ tổ chức mua, bán trong giờ hành chính nên đời sống nông dân bắt đầu khó khăn. Những ngày đầu giải phóng, sau niềm hân hoan là bát cơm, manh áo, cuộc sống mới bắt đầu. Người nông dân Cà Mau vốn dũng cảm và sáng tạo, tin ở Đảng, ở công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, tiếp tục bước vào những năm tháng xây dựng quê hương sau giải phóng.
Ngày 20 tháng 9 năm 1975, Bộ Chính trị họp và ra Nghị quyết số 245-NQ/TW về giải thể Cấp khu, hợp tỉnh và Nghị quyết số 19-NQ/TW về điều chỉnh việc hợp nhất một số tỉnh miền Nam. Thực hiện chủ trương của Trung ương. Tỉnh Cà Mau - Tỉnh Bạc Liêu tiến hành hợp nhất vào ngày 01/01/1976 lấy tên là tỉnh Bạc Liêu - Cà Mau.
Tỉnh Cà Mau - Bạc Liêu diện tích 7.600 km2, có 300 km bờ biển và khoản 500.000ha đất nông nghiệp, dân số 964.000 người, có 2 thị xã (Bạc Liêu, Cà Mau) và 8 huyện (Hồng Dân, Giá Rai, Vĩnh Lợi, Thới Bình, Cái Nước, Năm Căn, Ngọc Hiển, Trần Văn Thời), lấy thị xã Cà Mau làm trung tâm. Ngày 10/03/1976, Tỉnh Cà Mau - Bạc Liêu đổi tên thành tỉnh Minh Hải.
Vào thời điểm này việc huy động lương thực là nhiệm vụ rất nặng nề, để đảm bảo chính sách lương thực trong tình hình mới, Tỉnh ủy đã ban hành 2 chỉ thị (số 01 và số 02-CT/TU), về công tác huy động và quản lý lương thực, nghiêm cấm tư nhân mua lúa tự do, và chỉ cho phép người dân tự do bán ra thị trường trên dưới 10 giạ lúa, số còn lại phải bán cho nhà nước. Trong chỉ đạo sản xuất, đặc biệt là tập trung cho nông nghiệp làm lúa mùa, tăng vụ, kết quả đưa diện tích sản xuất trong tỉnh lên 218.607 ha, khôi phục vườn cây ăn trái, khôi phục đàn trâu 8.541 con, 151.033 con heo và 1.466.854 con gia cầm.
Ngày 25 tháng 4 năm 1976, toàn dân cả nước đi bầu ra Quốc Hội khoá VI (Quốc Hội thống nhất). Ngày 24 tháng 6 năm 1976, Quốc hội họp phiên đầu tiên quyết định đặt tên nước“Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” thay cho tên nước “Việt Nam dân chủ cộng hòa”, cả nước làm 2 nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Tháng 12 năm 1976, Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ IV của Đảng, đã quyết định đưa đất nước tiến lên Chủ nghĩa xã hội, tiến hành đồng thời 3 cuộc cách mạng để hướng tới 4 mục tiêu: Xây dựng chế độ làm chủ tập thể; xây dựng nền kinh tế mới, công nghiệp hoá làm trung tâm, xây dựng nền văn hoá mới và con người mới xã hội chủ nghĩa. Đại hội đã quyết định đổi tên Đảng thành Đảng Cộng sản Việt Nam.
II. VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI NÔNG DÂN TỈNH CÀ MAU-BẠC LIÊU
Ban Chấp hành Nông dân tỉnh (lúc đó gọi là Nông hội) có 10 đồng chí, do đồng chí Lê Thị Xuyến (Hai Trung) làm Thư ký; đồng chí Lưu Minh Mẫn (Chín Thành), Phó Thư ký; Ủy viên Thường vụ gồm: Các đồng chí Phạm Thái Hiểu (Mười Hoà), Lý Sóc (Bảy Sóc), Huỳnh Đặng (Sáu Hiền), Lê Hùng Giáp (Hai Giáp), Lê Văn Hiển (Ba Linh). Các huyện, xã, ấp có Ban cán sự nông Hội, hội viên 32.133 người.
Sau giải phóng, những ngày đầu của chính quyền Quân quản, tổ chức Hội ở từng cấp đã phối hợp chặt chẽ với Chính quyền triển khai các mặt công tác trọng tâm, đó là: Giữ gìn an ninh trật tự, xây dựng dân quân tự vệ, ổn định và phát triển sản xuất, vận động các gia đình có con em đi lính nguỵ ra đầu thú, học tập, hình thành các tổ vần công, đổi công, củng cố và xây dựng nông hội.
Ở các địa phương, xóm, ấp có các gia đình có con em đi lính nguỵ, sau giải phóng đều có tâm trạng lo sợ bị trả thù, một số ít trốn tránh học tập. Tổ chức Hội cùng với Chính quyền, Mặt trận, các tổ chức Đoàn thể chính trị - xã hội khác làm công tác chính trị tư tưởng cho các gia đình, thông qua việc tuyên truyền chính sách khoan hồng của Mặt trận để họ đưa con em ra học tập. Kết quả là đã vận động được 6.194 người ra học tập, cải tạo, trật tự an toàn, an ninh ở các địa bàn trong tỉnh được giữ vững. Tổ chức Nông Hội còn vận động và tổ chức nông dân khôi phục sản xuất, khai hoang phục hoá được 135.000 ha đất để trồng lúa, tổ chức đắp đập ngăn mặn, sửa cống, phát bờ, giúp đỡ nhau trở về quê cũ làm ăn. Hội đã vận động và tổ chức giúp đỡ được 12.000 người hồi hương (trở về quê sinh sống).
Nông Hội đã tích cực tổ chức vận động nông dân sản xuất, tập trung là trồng lúa và rau, màu. Nông dân đã khai hoan trên 18 ngàn ha đất đưa vao trồng lúa. Phong trào “lá lành đùm lá rách” được quan tâm, nông dân giúp đỡ lẫn nhau, góp gạo cứu đói 1.764 giạ, cho mượn 5.300 đồng. Công tác củng cố phát triển tổ chức hội được đẩy mạnh, trong 2 năm (1975-1976) kết nạp được 9.912 hội viên mới
Đối với Tổ chức Hội Nông dân. Đảng đã có những chủ trương thành lập Hội Liên hiệp Nông dân tập thể thay thế cho Hội Nông dân giải phóng miền Nam Việt Nam (Thông báo số 02-TB/TW, ngày 30 tháng 12 năm 1976 về bổ sung ban trù bị Đại hội Nông dân tập thể Việt Nam). Tiếp đó, Ngày 25/6/1977, Ban Bí thư ra Thông báo số 16 - TB/TW về việc thành lập Ban trù bị Đại hội đại biểu nông dân tập thể Trung ương, trực thuộc Ban Nông nghiệp Trung ương, do Ban Nông nghiệp chỉ đạo
Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, Ban Chấp hành Nông hội tỉnh đã ra Nghị quyết về phương hướng, nhiệm vụ năm 1977 bao gồm những nhiệm vụ trọng tâm, đó là: Quán triệt, học tập, xây dựng phong trào Hợp tác hoá, thực hiện điều chỉnh ruộng đất xoá bỏ tàn tích phong kiến, tư sản nông nghiệp, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, phát động làm thuỷ lợi, thực hiện chiến dịch ba thu, kiên quyết thực hiện vụ hè thu, tiếp tục phát động xoá mù chữ trong nông dân ở vùng sâu, vùng xa.
Năm 1977, Ban nông nghiệp Tỉnh uỷ, Ban Cải tạo quan hệ sản xuất đã thành lập Trường Hợp tác xã. Trường được xây dựng với diện tích 7 ha, trên địa bàn xã Long Thạnh, huyện Vĩnh Lợi, (cách Cầu Sập hơn 1.000m về phía Vĩnh Hưng). Trường trung cấp nông nghiệp được thành lập và xây dựng trên địa bàn phường 9, thị xã Cà Mau. Công tác đào tạo cán bộ cho việc ra đời hợp tác xã nông nghiệp và tập đoàn sản xuất được làm tích cực khẩn trương. Năm 1977, đã đào tạo được 39 lớp gồm (chủ nhiệm Hợp tác xã, trưởng Ban kiểm soát và kế toán) với số lượng 882 người. Công tác cải tạo nông nghiệp được tiến hành khẩn trương, đã xử lý 7 địa chủ, 174 phú nông, thu hồi 1.031 ha ruộng đất chia cho nông dân; đã cấp đất cho nông dân thiếu đất hoặc không có đất canh tác 2.000 ha; trang trải 6.179 ha ruộng cho 3.149 hộ. Các tập đoàn sản xuất được thành lập:Vùng rừng, rẫy có 76 tập đoàn, 3.435 tập đoàn viên. Vùng biển có 383 tập đoàn, 4.951 tập đoàn viên. Tổ đoàn kết sản xuất có 23 tổ với 451 tổ viên; tập đoàn cày trâu 7 tập đoàn, 40 đôi trâu; 47 tập đoàn cày máy có 314 máy cày; tổ hợp tác xã cuốc tay 107 hộ, có 320 lao động. Toàn tỉnh đã thành lập 5 Hợp tác xã mua bán.
Vụ mùa 1977 - 1978, tổng diện tích gieo trồng đạt 262.420ha tăng 3,5% so với năm 1976, khai hoang phục hóa 18.710ha vượt 83% kế hoạch (làm lúa tăng vụ, chuyển vụ phát triển mạnh ở các huyện vùng 1). Toàn tỉnh đàn trâu có 43.850 con, heo có 318.475 con, gia cầm 2,5 triệu con
Ngày 11 tháng 7 năm 1977, (Quyết định số 181/QĐ-CP) giải thể huyện Châu Thành; các xã của Châu Thành được chia về các huyện Giá Rai, Trần Văn Thời, Thới Bình và Thị xã Cà Mau. Năm 1977, Ban Chấp hành Nông hội tỉnh cùng với các huyện, thị ủy chỉ đạo kiện toàn Ban Chấp hành Nông hội 2 huyện (Giá Rai và Thị xã Cà Mau), bầu 30 ủy viên; 41 xã, 442 ủy viên; 176 ấp, bầu 1.466 ủy viên; củng cố 89 tổ, xây dựng mới 139 tổ, kết nạp mới 2.384 hội viên, nâng tổng số lên 1.622 tổ có 36.257 hội viên.
Năm 1977, là năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV và Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Minh Hải lần thứ V. Tập trung cải tạo quan hệ sản xuất XHCN một cách triệt để, trong đó có nông nghiệp, nông thôn, thành các tập đoàn sản xuất và hợp tác xã sản xuất tập trung .Tiếp đó để xoá bỏ tất cả các thành phần tư sản, địa chủ. Ban Bí thư ra Thông báo số 10-TB/TW ngày 24 tháng 3 năm 1977, về chủ trương cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam. Ngày 15 tháng 11 năm 1978, Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 57-CT/TW về xoá bỏ các hình thức bóc lột của địa chủ, tư sản nông thôn, đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam.
Nhiều hộ nông dân trong tỉnh chưa đồng tình với mô hình hợp tác xã kiểu này, hơn nữa chính sách thu mua lúa của nông dân, theo kiểu bắt ép bán cho các công ty lương thực, giá cả không theo thỏa thuận, mà theo quy định, nên nhiều gia đình nông dân không muốn bán lúa cho nhà nước và nhiều nơi thiếu đói xảy ra. Các mặt hàng thiết yếu như: vải mặc, dầu, giấy, vật liệu xây dựng, phân bón, thuốc trừ sâu… được cung theo định lượng và theo hợp tác xã hay tập đoàn sản xuất, đời sống nông dân ở nông thôn gặp khó khăn.
III. HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI NÔNG DÂN TỈNH MINH HẢI
Sau khi sáp nhập và đổi tên tỉnh, 10/01/1978, Đại hội Đại biểu Nông hội tỉnh Minh Hải được tổ chức tại Hội trường Trường Đảng Châu Văn Đặng (Thị xã Bạc Liêu). Đại hội đã bầu Bà Lê Thị Xuyến (Hai Trung) làm thư ký; Ông Nguyễn Hiệp Hoằng (Ba Tăng); Ông Lưu Minh Mẫn (Chín Thành); Ông Hồ Công Tâm (Hai Tâm) làm phó thư ký. Đại hội thông qua Nghị quyết về đẩy mạnh việc thực hiện các Nghị quyết của Đảng, vận động nông dân chấp hành tốt chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, vận động nông dân vào làm ăn tập thể, đẩy mạnh sản xuất lương thực, hoàn thành nghĩa vụ với Nhà nước.
Năm 1978, Tỉnh ủy tích cực chỉ đạo tập thể hoá, xoá bỏ tư hữu, tập thể hóa ruộng đất, trâu bò, (có nơi tập thể hóa cả heo, gà, vịt). Cấp xã, thành lập Ban sản xuất, toàn tỉnh đã thành lập 90 ban sản xuất, (Ban sản xuất xã có 1 trưởng ban, 3 phó trưởng ban). Hoạt động của Ban sản xuất là chỉ đạo thực hiện Nghị quyết của Cấp Ủy; quan hệ với Phòng Nông nghiệp huyện để được cung ứng vật tư, giống cho các tập đoàn và hợp tác xã trên địa bàn. Về tổ chức và hoạt động của Hội Nông dân tập thể là kết hợp với Ban sản xuất tổ chức đưa nông dân vào hợp tác xã và tập đoàn sản xuất, vận động nông dân sản xuất trên địa bàn xã.
Cuối năm 1978, tỉnh Minh Hải tiến hành chia huyện, tách xã: Từ 6 huyện lên thành 11 huyện; 66 xã, chia thành 206 xã, 7 thị trấn chia thành 14 thị trấn. Sau thời điểm này tỉnh Minh Hải có 2 thị xã (Bạc Liêu, Cà Mau) với 16 phường. 12 đơn vị cấp huyện, gồm: huyện Hồng Dân, Phước Long, Vĩnh Lợi, Giá Rai, Cà Mau, U Minh, Thới Bình, Trần Văn Thời, Cái Nước, Phú Tân, Đầm Dơi, Ngọc Hiển); Với 260 xã và 14 thị trấn.
Thực hiện Nghị quyết số 01 ngày 10 tháng 01 năm 1978 của Ban Chấp hành Nông Hội tỉnh về công tác xây dựng Hội; cấp huyện bổ sung 19 Ủy viên (trong đó cấp xã 9 Ủy viên, ấp 5 Ủy viên) vào Ban Chấp hành Hội Nông dân tập thể huyện theo yêu cầu cơ cấu mới. sắp xếp lại 16 Ban cán sự nông dân xã với 59 Ủy viên, trong đó có 10 nữ; triển khai và tiến hành thành lập các tiểu tổ trong tập đoàn, hợp tác xã
Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, Hội đã phối hợp chặt chẽ với Chính quyền và các Đoàn thể chính trị - xã hội tập trung công tác tuyên truyền vận động nông dân vào tập đoàn sản xuất, hợp tác xã nông nghiệp; trang trải ruộng đất. Với mục đích “Người cày có ruộng”, một mặt vừa vận động, một mặt xử dụng biện pháp hành chính gần như ép một số hộ nông dân giàu có (đã được coi là phú nông, địa chủ) chia, nhượng ruộng đất cho những người thiếu đất hoặc không có đất. Một số gia đình nông dân tuy không thật nhiều đất nhưng đã hăng hái thực hiện cuộc vận động chia đất cho những gia đình nông dân khó khăn. (Đất đai, ruộng vườn lúc đó chưa có luật đất đai nên được coi là của Nhà nước, nông dân chưa có quyền sang, bán). Hội viên, nông dân ở nông thôn, đều có đơn xin gia nhập vào tập đoàn sản xuất và hợp tác xã nông nghiệp.
Qua khảo sát và tổng kết hoạt động của 922 tập đoàn, 45.590 hộ tập đoàn viên, 278,819 khẩu, 101.944 lao động, Hội Nông dân nhận xét 1 số biện pháp xây dựng tập đoàn sản xuất tại xã, ấp là: chủ yếu các tập đoàn được hình thành là gò ép nông dân. Tâm lý của nông dân nói chung, coi việc thành lập tập đoàn là tước đoạt mất ruộng đất, không gắn nông dân với đồng ruộng. Thực tế có 30 tập đoàn hoạt động tạm gọi là có nề nếp, còn lại chủ yếu tồn tại theo kiểu hình thức, nhưng phải hình thành thì mới được cung ứng phân bón, vật tư nông nghiệp và vay vốn. Đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn của tập đoàn chưa được đào tạo cơ bản hoặc có được đào tạo, nhưng chưa có kinh nghiệm, có nhiều hiện tượng cán bộ lợi dụng chức vụ để trục lợi.
Đầu năm 1979, Tỉnh ủy đã huy động 230 cán bộ đi tập huấn để chỉ đạo thành lập tập đoàn sản xuất và hợp tác xã. Trường Hợp tác xã của tỉnh đào tạo gấp 3.700 cán bộ quản lý. Trong năm, huyện Giá Rai đã thành lập 221 tập đoàn sản xuất, Hồng Dân 297 tập đoàn sản xuất, Vĩnh Lợi 112 tập đoàn sản xuất, Ngọc Hiển 152 tập đoàn sản xuất.Tỉnh thành lập gấp 10 tập đoàn máy kéo, để phục vụ sản xuất của các tập đoàn, hợp tác xã nông nghiệp trong tỉnh.
Năm 1979, bọn phản động Trung Quốc bị thua đau trên 2 chiến trường Campuchia và các tỉnh biên giới phía Bắc nước ta. Tuy thất bại nặng nề, nhưng mộng bá quyền và âm mưu làm suy yếu, thôn tín nước ta, các nước Đông Dương và Đông Nam Á của chúng chưa từ bỏ. Chúng tăng cường nhiều quân lính, đưa thêm nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh áp sát biên giới Việt-Trung, Lào-Trung chuẩn bị cuộc tiến công mới với quy mô lớn. Tình hình lúc này vô cùng căng thẳng, chúng còn tiếp tay cho bọn tàn quân PônPốt, Xary phá hoại cách mạng Campuchia, dùng chiến tranh 2 đầu để căng kéo lực lượng ta.
Thực hiện lời kêu gọi của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, lệnh Tổng động viên của Quốc hội và Chỉ thị của Chủ tịch nước, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta từ Bắc chí Nam đoàn kết chặt chẽ xung quanh Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chính phủ một lòng quyết đánh, quyết thắng quân xâm lược Trung Quốc, bảo vệ từng tất đất thiên liêng của Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế vẻ vang.
Hòa chung khí thế cách mạng trong cả nước, tỉnh ta đã động viên, huy động hàng chục ngàn thanh niên trong độ tuổi gia nhập lực lượng vũ trang. Cùng thời gian này, 20 ngàn tấn lương thực đã được nhập kho, trong đó có hàng chục tấn lúa hiến, đưa mức huy động lên 75 ngàn tấn (có 49 ngàn tấn lúa thuế nông nghiệp), đạt 60% kế hoạch huy động mùa vụ. Ngày 30 tháng 3 năm 1979, Hội nghị Tỉnh ủy sơ kết uốn nắn tình hình và đề ra kế hoạch tới. Trong đó, quyết định mở chiến dịch to lớn, rộng rãi trong toàn tỉnh nhằm thực hiện tốt mục tiêu và nhiệm vụ trước mắt:
Một là: Huy động cao nhất sức người để xây dựng lực lượng vũ trang chiến đấu và phục vụ chiến đấu thắng lợi; trước mắt từ nay đến cuối tháng 5 năm 1979 sẽ hoàn thành vượt mức chỉ tiêu kế hoạch quân sự 1979 do Nhà nước giao và quân sự hóa toàn dân.
Hai là: Huy động cao nhất sức của, nhất là lương thực đảm bảo cho tiền tuyến ăn no, đánh thắng; trước mắt từ nay đến tháng 5 năm 1979 huy động thêm 60 ngàn tấn lương thực nữa, đưa mức huy động từ đầu vụ đến cuối tháng 5 đạt 130 ngàn tấn.
Ba là: Ra sức đẩy mạnh sản xuất cho được 1 triệu tấn lương thực, đưa 70% hộ nông dân vào tập đoàn sản xuất; trước mắt chuẩn bị đầy đủ mọi điều kiện đến cuối tháng 5 có thể gieo cấy được 50 ngàn đến 60 ngàn ha lúa hè thu, xây dựng trên 1.000 tập đoàn sản xuất nông nghiệp.
Thực hiện ở nhiệm vụ trên, Thường vụ Tỉnh ủy đã ra Chỉ thị số 10/CT-TU nói rõ nhiệm vụ quân sự và đề án công tác sản xuất nông nghiệp, công tác xây dựng tập đoàn sản xuất nông nghiệp.
- Chỉ thị quy định cụ thể:
+ Tất cả các nông dân phải hoàn thành đầy đủ thuế nông nghiệp và động viên tốt nghĩa vụ bán lương thực cho Nhà nước, theo mức mỗi ha 800 kg cho các huyện Hồng Dân, Giá Rai và 600 kg cho các huyện thị còn lại. Hoặc huy động tối thiểu cho được 30% so với tổng sản lượng lương thực.
+ Phải tiến hành cân đối lại lương thực của từng hộ dân theo quy định. Nếu những hộ không hoàn thành nhiệm vụ lương thực, đem lúa bán cho gian thương, hoặc phân tán, bằng mọi cách phải có thái độ xử lý thích đáng và bắt phải đi mua, đi mượn về bán cho Nhà nước đúng theo cân đối lương thực. Về việc quy định (20% hàng bán thưởng cho những người bán dư lương thực cho Nhà nước theo Chỉ thị 07/CT-TU xét không phù hợp với tình hình đất nước có chiến tranh nên không thực hiện quy định đó).
+ Vận động nông dân sau khi đã đóng đủ thuế, bán đúng mức nghĩa vụ lương thực cho Nhà nước, nếu còn nhiều lúa tự nguyện hiến cho Nhà nước mượn lương thực để nuôi quân đánh giặc, thời hạn cho mượn là 8 năm, kiên quyết trưng mua những hộ còn nhiều lương thực đã nhiều lần giáo dục nhưng không chịu bán cho Nhà nước. Cấp ủy, chính quyền huyện, xã dựa vào các Đoàn thể, vào các nòng cốt quần chúng nông dân làm việc cụ thể từng ấp, xóm, tổ chức lực lượng trưng mua đến từng xã, ấp, xóm. Giá trưng mua theo chỉ đạo và trả tiền sau(1).
Hưởng ứng lời kêu gọi của Ban chấp hành Trung ương Đảng, thi hành lệnh Tổng động viên của Quốc hội và Chủ tịch nước. Tỉnh ủy quyết định chiến dịch to lớn rộng rãi trong toàn tỉnh nhằm thực hiện 3 mục tiêu lớn đề ra: Đóng góp cao nhất sức người, sức của, ra sức đẩy mạnh sản xuất và cải tạo nông nghiệp; góp phần tích cực cùng cả nước đánh thắng hoàn toàn quân xâm lược Trung Quốc; ổn định đời sống nhân dân và từng bước xây dựng thành công cơ sở vật chất chủ nghĩa xã hội.
Nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với chiến dịch, Tỉnh ủy chủ trương lấy Bộ Chỉ huy Quân sự thống nhất của tỉnh (theo tinh thần Chỉ thị 67/CT-TW của Ban Bí thư). Quy định quyền hạn của Bộ Chỉ huy Quân sự thống nhất làm nhiệm vụ Hội đồng quốc phòng địa phương, được Trung ương ủy nhiệm quyền động viên nhân tài, vật lực ở địa phương trong thời chiến. Bổ sung thêm một số đồng chí Cấp ủy viên phụ trách các ngành có liên quan như: Thường trực Cấp ủy, lương thực, tài chính, nông nghiệp, thương nghiệp vào Ban Chỉ huy chiến dịch.
Cần làm cho cán bộ đảng viên quán triệt tình hình và nhiệm vụ mới hiện nay, quán triệt chủ trương của Tỉnh ủy về việc mở chiến dịch cùng với các mục tiêu lần này, đầu tàu gương mẫu đóng góp sức người, sức của, tích cực trong sản xuất, trong cải tạo sản xuất nông nghiệp vào tập đoàn sản xuất; coi đây là trách nhiệm tự giác của mỗi người và kỷ luật của mỗi đảng viên. Đây cũng là thời cơ cho mỗi đảng bộ, mỗi cán bộ đảng viên lập công hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Sắp xếp lại công việc gọn nhẹ để huy động cao nhất cán bộ cho chiến dịch. Thành lập các đoàn cán bộ của tỉnh, huyện đến tận xã, ấp chỉ đạo hoàn thành các mục tiêu chiến dịch, đây là nhiệm vụ chính trị khẩn trương, cấp bách trước mắt của địa phương và cũng là nhiệm vụ chính trị của mỗi Đoàn cán bộ, tỉnh, huyện giúp xã, quyết tâm để trong thời gian ngắn hoàn thành các chỉ tiêu của chiến dịch.
Ngày 25/6/1979, Ban Bí thư quyết định tách Ban trù bị Đại hội đại biểu nông dân tập thể nằm trong Ban Nông nghiệpTW, thành một cơ quan thuộc hệ thống các Đoàn thể quần chúng và dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Bí thư.
Tại Minh Hải, cuối 1979 nhìn nhận về phong trào hợp tác xã và tập đoàn sản xuất và đời sống nông dân. Hội Nông dân tập thể tỉnh đã có báo cáo đánh giá: Tâm trạng chung của nông dân là không thiết tha vào tập đoàn sản xuất, Hợp tác xã vì các tổ chức này không thật thiết thực với lợi ích chính đáng của người nông dân. Nhiều nông dân thiếu tin vào một bộ phận cán bộ chính quyền và một số đảng viên hách dịch, quan liêu, nói là vào Hợp tác xã, tập đoàn tự nguyện, nhưng thực chất là gò ép. Cán bộ tập đoàn thiếu kinh nghiệm sản xuất và nông dân chưa làm quen với tổ chức hoạt động tập thể. Trong khi nông dân đời sống kinh tế khó khăn do chính sách ngăn sông, cấm chợ. Hàng hóa tiêu dùng thiết yếu như: vải, dầu, muối… hết sức thiếu thốn, người dân chỉ được phân phối theo định lượng; việc cung ứng vật tư nông nghiệp thiếu và không kịp thời, lại thông qua cơ chế công ty, tập đoàn gây nên khó khăn cho sản xuất nông nghiệp. Nông dân quan hệ với Hợp tác xã và tập đoàn sản xuất không mặn mà; cộng với những khó khăn thiếu thốn trong đời sống từ thuốc chữa bệnh đến trường học, giao thông và học hành của con em ở nông thôn đã tác động mạnh đến tâm lý nông dân. Cộng vào đó là chiến tranh biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc bùng nổ, chiến tranh gắn liền với sự hy sinh, mất mát, nên mỗi lần huy động tuyển quân các cấp ủy Đảng, Chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể hết sức vất vả, mà đây là một công tác trọng tâm hàng năm. Đời sống nông dân khó khăn, việc huy động lương thực và hoàn thành nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước lại càng khó khăn hơn. Người dân không muốn bán lương thực cho Nhà nước. Nhiều địa phương dùng biện pháp cưỡng chế, các mặt hàng nông sản khác như heo, gà, vịt, dừa khô cũng phải bán cho Nhà nước, do tiền mặt khan hiếm, người bán phải lấy phiếu (3 - 4 tháng sau mới lấy được tiền) hoặc phải lấy vật tư xây dựng như: lấy tấm lợp Pibro xi măng, xi măng, phân bón, ván, cây gỗ… Nếu nông dân không bán hàng cho Nhà nước mà đem bán hàng cho tư thương thì bị coi là chống lại chế độ, chính sách. Cán bộ bắt được người bán lúa cho tư thương có khi ra lệnh tịch thu để bán chịu cho Nhà nước. Hàng hoá, nông sản phẩm muốn đem ra khỏi tỉnh phải có giấy cho phép do Ủy Ban nhân dân huyện, tỉnh cấp (nếu không có giấy hoặc mang nhiều hơn số lượng cho phép sẽ bị tịch thu).
Tuy đời sống khó khăn, nhưng nông dân Cà Mau cũng đã cố gắng hoàn thành nghĩa vụ đối với Nhà nước, năm 1979 đã huy động được 92.000 tấn lúa bán cho Công ty lương thực; phong trào tương thân tương ái, giúp đỡ lẫn nhau trong nội bộ nông dân được 64 tấn lúa; 1.804 kg gạo, cứu đói cho 513 hộ dân và giúp 120 tấn lúa giống cho các hộ thiếu lúa giống sản xuất.
Bộ Chính trị quyết định thành lập tổ chức thống nhất của nông dân lao động trong cả nước, có hệ thống từ Trung ương đến cơ sở, lấy tên là Hội Liên hiệp Nông dân tập thể Việt Nam. Ngày 27 tháng 9 năm 1979, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 78-CT/TW về việc tổ chức Hội Liên hiệp Nông dân tập thể Việt Nam. Để phát triển sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và đoàn kết nông dân lao động, đưa nông thôn nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội, Chỉ thị khẳng định Hội Liên hiệp Nông dân tập thể Việt Nam là tổ chức quần chúng rộng rãi của nông dân lao động trong cả nước, Hội có nhiệm vụ tập hợp, đoàn kết nông dân để giáo dục, vận động nông dân thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp miền Nam, đưa nông thôn tiến lên chủ nghĩa xã hội. Hội kết nạp tất cả nông dân hăng hái phấn đấu vào con đường làm ăn tập thể xã hội chủ nghĩa, theo nguyện tắc tự nguyện.
Đến cuối năm 1979, toàn tỉnh đã thành lập 1.106 Tập đoàn sản xuất và Hợp tác xã nông nghiệp với hơn 25.000 ha đất (trong đó có 130 Tập đoàn tập thể hoá được tư liệu sản xuất và huy động được tập đoàn viên ra đồng). Lúc này đã xuất hiện một bộ phận nông dân vào tập đoàn xản xuất nhưng không ra đồng.
Thực hiện chủ trương của Trung ương, tại Minh Hải, Hội Nông dân tỉnh đã kiện toàn tổ chức được 168/260 Hội Nông dân cấp xã với 511 uỷ viên có 18 nữ; củng cố lại các Ban cán sự ấp được 117 ban, có 402 ủy viên; toàn tỉnh có 4.937 tiểu tổ, có 76.979 hội viên (trong đó 21.027 nữ). Trong năm 1979 kết nạp mới 4.701 hội viên, Trường đào tạo cán bộ Hội cấp tỉnh đã mở 4 lớp bồi dưỡng cho 112 cán bộ cấp huyện và cơ sở. Cấp huyện mở 18 lớp, bồi dưỡng chính sách cải tạo nông nghiệp cho 398 cán bộ xã, ấp (có 42 nữ). Hội cấp tỉnh phối hợp với Ban cải tạo nông nghiệp tập huấn cho cán bộ xã, ấp về công tác vận động, tổ chức tập đoàn sản xuất được 8.636 cán bộ.
Những năm 1980 - 1981, đời sống nhân dân ngày càng khó khăn gay gắt; cơ chế tập trung còn hết sức nặng nề (mặc dù Nghị quyết Trung ương 6 (Khoá IV) tháng 6 năm 1979 của Ban Chấp hành TW Đảng đã có chủ trương xoá bỏ ngăn sông, cấm chợ, nhưng việc xin giấy để mang có hạn nông sản phẩm còn kéo dài đến những năm 1984 – 1985); việc dồn sức cho phát triển công nghiệp nặng gây lãng phí lớn. Bên cạnh đó, những khó khăn khách quan, đó là hậu quả chiến tranh Tây Nam và chiến tranh biên giới phía Bắc làm tăng thêm gấp bội những khó khăn vốn đã rất khó khăn.
Ngày 15 tháng 4 năm 1980, Tỉnh ủy Minh Hải ban hành Quyết định thành lập Hội Liên Hiệp Nông dân tập thể Việt Nam tỉnh Minh Hải.
Ban Chấp hành Lâm thời được chỉ định gồm: Bà Lê Thị Xuyến (Hai Trung) làm Chủ tịch; ông Lưu Minh Mẫn (Chín Thành) và ông Trần Tấn Vững (Sáu Vũ) làm Phó Chủ tịch, cùng với các Ủy viên trong Ban Chấp hành Hội Nông dân.
Ngày 03 tháng 5 năm 1981, Đại hội đại biểu Hội Liên hiệp Nông dân tập thể tỉnh Minh Hải, tổ chức tại hội trường Trường Đảng Châu Văn Đặng (thị xã Bạc Liêu). Đại hội đã tổng kết quá trình hoạt động của Hội từ năm 1979 - 1981, xây dựng phương hướng hoạt động 1981 - 1984 và bầu Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Nông dân tập thể Việt Nam tỉnh Minh Hải nhiệm kỳ 1981 - 1984 gồm 29 ủy viên. Bà Lê Thị Xuyến (Hai Trung) được bầu làm Chủ tịch; Ông Lưu Minh Mẫn (Chín Thành); Ông Hồ Công Tâm (Ba Tâm); Ông Trần Tấn Vững (Sáu Vũ) được bầu làm Phó Chủ tịch.
Đại hội đại biểu Hội Liên hiệp Nông dân tập thể tỉnh Minh Hải năm 1981 tiếp tục thực hiện quan điểm của Đảng và những chủ trương của Tỉnh ủy. Nghị quyết của Đại hội đại biểu Hội Liên hiệp Nông dân tập thể tỉnh được thể hiện: Về quan hệ sản xuất tiếp tục thực hiện cải tạo quan hệ sản xuất, xây dựng tập đoàn sản xuất và Hợp tác xã trong nông nghiệp và trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Tiếp tục góp phần thực hiện công nghiệp hoá, công nghiệp nặng. Về quốc phòng an ninh, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc nói chung và trên địa bàn nói riêng. Một nhiệm vụ quan trọng của Minh Hải và miền Tây là tiếp tục hoàn thành nghĩa vụ quốc tế với cách mạng Campuchia đó là đưa bộ đội, chuyên gia sang Kokông và giúp đào tạo cán bộ cho bạn.
Ngày 13 tháng 01 năm 1981 Ban Bí thư Trung ương ra Chỉ thị số 100-CT/TW về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động. (Ở miền Bắc thực chất, đất đai khi tập thể hoá, hợp tác hoá đã tách khỏi người nông dân - người lao động chỉ là người làm thuê cho hợp tác xã). Khoán 100, nông dân vẫn là tập đoàn viên, xã viên hợp tác xã, nhưng được giao ruộng, giao sản lượng; thu hoạch phải nộp sản và được hưởng sự trả công từ sản lượng đó. Phần năng suất vượt sản, người nông dân được hưởng. Khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động ở các tỉnh miền Bắc (nông dân gọi là khoán 100) bước đầu đã có sự đổi mới đó là chính sách mới, nông dân miềm Bắc rất phấn khởi vì đây là bước đầu giao đất lại cho nông dân... Ngày 18 tháng 11 năm 1981, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Thông tri số 22-TT/TW về khoán sản phẩm trong các tập đoàn sản xuất và Hợp tác xã ở Nam Bộ.
Những năm 1981 - 1982, đời sống nhân dân khó khăn, chế độ tập trung quan liêu bao cấp và chế độ tập thể hoá tác động đến tất cả các lĩnh vực, nhu yếu phẩm thiết yếu phục vụ cho người dân không đáp ứng kịp đời sống, phương tiện đi lại cực kỳ khó khăn. Nhà nước rất khó khăn trong việc vận động nông dân bán lúa cho Nhà nước. Sau mùa thu hoạch, cán bộ huyện, tỉnh (có cả cán bộ Trung ương) về nông thôn vận động nông dân bán lúa cho Nhà nước. Dể hoàn thành chỉ tiêu, nhiều địa phương và các đoàn, tổ công tác, cán bộ tính toán chỉ để lúa cho hộ dân đủ chi dùng, còn lại phải bán cho cửa hàng lương thực để nhập kho (mỗi huyện đều được đầu tư xây kho lúa kiên cố hàng tỷ đồng). Nếu hộ nào không chịu bán lúa cho Nhà nước thì cán bộ “Đo bồ”, thậm chí cho ghe vào mua theo giá qui định (giá rất thấp) ngay tại nhà dân. Để đối phó, một số hộ dân, không đem lúa về nhà mà làm chòi để lúa ngoài ruộng…
Tuy khó khăn nhưng trong sản xuất, đã xuất hiện nhiều điển hình sáng tạo. Huyện Đầm Dơi có 3 Hợp tác xã nông nghiệp thực hiện theo đúng tinh thần chỉ thị số 100-CT/TW của Trung ương Đảng, đó là Hợp tác xã Bào Sen, Hợp tác xã nông nghiệp Bá Huê (xã Tân Bằng), Hợp tác xã Tân Long (xã Tân Duyệt). Việc đưa giống lúa mới vào đồng ruộng để đưa lúa từ 1 vụ thành 2 vụ, kết hợp với xây dựng cống bọng, tháo úng, xổ phèn làm cho năng suất lúa lên 4 - 4,5 tấn/ha/vụ... ở Tân Ân, nông dân đã có sáng kiến chuyển dịch những khu đất rẫy, trồng lúa lâu năm năng suất, người dân mạnh dạn lấy nước mặn vào nuôi tôm tự nhiên, đạt năng suất 500 kg/ha; đi đầu là các nông dân Phan Văn Ngươn, Phan Văn Cử, Lê Văn Giáp, Nguyễn Văn Thức ở tuyến Đường kéo.Thấy có hiệu quả nông dân trong ấp làm theo, trở thành điểm nuôi tôm tự nhiên phát triển mạnh. Cuối 1983, huyện Ngọc Hiển đã có hơn 10.000 ha đất được bao ví thành vuông nuôi tôm. Con tôm đã giúp cho nông dân trong vùng giàu lên rõ rệt.
Tháng 6 năm 1981, Tỉnh ủy ra Nghị quyết số 49-NQ/TU nhằm đẩy mạnh và phát triển toàn diện ngành thuỷ sản, tổ chức lại và phát triển nghề đánh bắt hải sản, phát triển rộng nghề nuôi trồng thủy hải sản. Huyện ủy, Ủy Ban nhân dân huyện Ngọc Hiển, chỉ đạo thành lập các làng cá Xóm Thủ, Tân Ân, Viên An, Đất Mũi. Công ty liên doanh thủy sản Năm Căn đầu tư ngư lưới cụ, nhiên liệu cho hàng trăm tàu đánh cá của ngư dân; tuy phương tiện nhỏ, nhưng lượng tôm, cá nhiều nên thu nhập của nhân dân khá cao.
Năm 1982, thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy kiên quyết thực hiện Chỉ thị 57 của Bộ Chính trị. Hội Liên hiệp Nông dân tập thể được giao nhiệm vụ cùng với Mặt trận, các Đoàn thể và Ban cải tạo vận động người dư đất hiến đất, trang trải đất cho người không có đất. Họp dân, phân chia trang trải và thành lập ngay tổ đoàn kết sản xuất. Chỉ trong 3 tháng, đã điều chỉnh đất đai ở 109 xã/206 xã điều chỉnh 7.789 hộ, 10.929 ha đất, cấp cho 7.840 hộ, vận động cho mượn đất ở 33 xã, thị trấn, trang trải 31.512 ha đất.....trong nông thôn xuất hiện một số hộ dân tìm cách tách hộ để giữ đất không cho lấy đất trang trải và nhiều hộ xâm canh có đất xâm canh là tịch thu đất không chịu trả. Trong khi dân chưa tự giác thì một số cán bộ, đảng viên bao che cho bà con, dòng họ để không cho Ban cải tạo lấy đất điều chỉnh theo chủ trương của tỉnh.
Hội Liên hiệp Nông dân tập thể tỉnh, đã tích cực vận động nông dân thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, nghị quyết của Tỉnh ủy, thực hiện tốt việc huy động, giúp đỡ các tỉnh khó khăn, bão lụt. Về tổ chức các cấp Hội đã củng cố 57 Ban Chấp hành cơ sở, đưa tổng số cơ sở được bầu và củng cố tổ chức 212 cơ sở. Chi hội bầu cử dân chủ 87 chi 3.888 cán bộ, trong đó có 689 nữ. Có trên 5 ngày tiểu tổ được thành lập trong tập đoàn, hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, có 10.037 cán bộ (tổ trưởng, tổ phó), có 113 nữ; kết nạp 6.171 hội viên mới (có 1.128 nữ), nâng tổng số hội viên lên 115.318 người, trong đó có 36.769 nữ.
Năm 1983, các Lâm trường lần lượt ra đời như: Lâm trường Ngọc Hiển, Lâm trường Đất Mũi… sau khai thác, Lâm trường giao đất cho nông dân, vừa trồng rừng, vừa nuôi trồng thủy hải sản; có rất nhiều hộ nuôi tôm tự nhiên thu hoạch khá cao, đời sống thoải mái (nông dân nuôi tôm đời sống cao gấp mười lần làm nông nghiệp).
Những năm 1980 - 1985, Tỉnh ủy, Huyện ủy tập trung cho cây lúa (do thiếu lương thực). Năm 1982, Tỉnh ủy và Ủy Ban nhân dân tỉnh chỉ đạo quyết liệt việc chuyển đổi giống lúa từ lúa mùa, một bụi sang trồng các loại lúa trung hạn (120 ngày) và ngắn hạn (100 ngày) như giống IR42. Nhiều vùng trong tỉnh áp dụng trồng giống lúa này (nhất là ở Vùng I - Bạc Liêu). Ở vùng II đã xuất hiện nhiều gương nông dân làm lúa tăng vụ như Ông Lê Văn Út, ấp Láng Cùng, xã Lương Thế Trân huyện Cái nước, nhận 3 giạ lúa giống cấy 15 công, kết quả thu hoạch 42 giạ/công... Nông dân xã Tân Thuận, Tân Tiến (Đầm Dơi) vần đổi công kê đất, đào mương phèn để làm giống mới đã nâng cao năng suất lúa… sáng kiến này được nhân rộng ra toàn tỉnh. Ở Vùng I, một số địa bàn do chủ động được nguồn nước ngọt, một số hộ nông dân áp dụng phương pháp sạ khô vừa đỡ công cày bừa, vừa đạt năng suất và có thêm thời gian để làm lúa vụ 2.
Phong trào làm lộ đất đỏ (đất nun bằng rơm và trấu) làm lộ ấp liền ấp, xã liền xã; Phong trào xây dựng đường, trường, trạm được phát động rộng rãi (tỉnh thành lập xí nghiệp làm gạch, để cung cấp cho nông dân xây nhà với giá của Hợp tác xã). Phong trào làm thủy lợi, thủy nông nội đồng (chủ yếu sên, kê đất, đào mương phèn), phong trào đưa lúa xuống vùng đất ngập mặn, phong trào con tôm ôm gốc lúa được tuyên truyền sâu, rộng; nhưng thực tế có một vài phong trào hiệu quả không cao. Thời kỳ này hội viên nông dân U Minh, Thới Bình, Trần Văn Thời còn có phong trào trồng rẫy, trồng mía, trồng cà phê, cây ăn trái, hạt tiêu, hạt điều bước đầu có thu hoạch, nhưng chất lượng thấp. Tuy vậy, các phong trào nói chung đánh dấu sự tìm tòi sáng tạo, quyết tâm vượt khó, quyết tâm vươn lên xóa đói nghèo của nông dân Minh Hải (Cà Mau).
Năm 1983 Tỉnh Minh hải, giải thể huyện Cà Mau và nhập 4 đơn vị cấp huyện (huyện Hồng Dân và huyện Phước long lấy tên là huyện Hồng dân; nhập huyện Cái Nước và huyện Phú Tân lấy tên huyện Cái Nước); năm 1984 đổi tên huyện Năm Căn thành huyện Ngọc Hiển, Huyện Ngọc Hiển thành huyện Đầm Dơi.
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Hội Liên hiệp Nông dân tập thể Việt Nam tỉnh Minh Hải nhiệm kỳ 1981 - 1984, cùng với phong trào hợp tác hoá, hoạt động của Hội Liên hiệp Nông dân tập thể các cấp đã tích cực vận động nông dân sản xuất. Sản lượng lúa năm 1981 đạt 750.000 tấn, tăng 2 lần so 1976, huy động 667.000 tấn, 40.000 tấn heo hơi, đánh bắt 175.000 tấn thuỷ sản. Tỉnh có 2 cơ sở đông lạnh, 9 đội máy kéo, 11 trạm máy kéo của các huyện với 465 máy, 5 nông trường quốc doanh trồng lúa, 9 Hợp tác xã nông nghiệp, 106 tập đoàn sản xuất, 2.000 tổ đoàn kết sản xuất. Những nông trường kinh tế mới như: Minh Hà, U Minh, Đông Hải, Sông Đốc được mở ra; lao động các tỉnh về các vùng kinh tế mới 11.000 người. Về công nghiệp, tỉnh xây dựng nhà máy cơ khí, 4 huyện và 2 thị xã có xí nghiệp cơ khí, 1 xí nghiệp gạch, 1 hợp tác xã sản xuất gạch 24 triệu viên/năm; 1 xí nghiệp sản xuất dầu dừa, xà bông, 2 xí nghiệp thức ăn gia súc, 1 xí nghiệp mộc xẻ gỗ, 2 thị xã có máy phát điện và ở các huyện có các tổ máy phát điện. Tiểu thương ở các chợ được đưa về nông trường hoặc đưa về các cơ sở tiểu thủ công nghiệp. Hợp tác xã mua bán được thành lập đến xã, ấp, thực hiện việc bán lẻ nhu yếu phẩm và hàng hóa tiêu dùng thiết yếu. .Về văn hoá xã hội, lúc này tỉnh thiếu rất nhiều giáo viên, giáo viên các tỉnh miền Bắc được điều động chi viện.
Năm 1983, toàn tỉnh tập huấn cho 5.700 cán bộ hợp tác xã, 9.926 cán bộ quản lý tập đoàn, mở 2 lớp bồi dưỡng 107 cán bộ là chủ nhiệm, phó chủ nhiệm các hợp tác xã, đưa đi học ở Trung ương 13 người. Các huyện mở 36 lớp, 3.437 cán bộ quản lý và 1 lớp kế toán hợp tác xã và tập đoàn cho 65 cán bộ.
Sai lầm trong thời kỳ này là tiếp tục tách dân ra khỏi đất. Phân phối hàng tiêu dùng thiết yếu không đến tay nông dân. Trong cán bộ, công chức, một số người nắm giữ hàng hoá thao túng, quan liêu, tham ô làm ảnh hưởng tới lòng tin của dân. Nhiều địa bàn vùng sâu (nơi căn cứ kháng chiến) sự phân phối không đảm bảo tới người dân, từ đó tạo ra sự thắc mắc, tạo dư luận không tốt đối với Đảng và Nhà nước ta. Thực chất điều chỉnh ruộng đất là hình thức lấy của người này cấp cho người khác. Quản lý tập đoàn và Hợp tác xã, cán bộ đào tạo không chu đáo. Trong quan hệ với Nông dân với Nhà nước chủ yếu vẫn áp dụng chính sách “mua như cướp, bán như cho”, nợ dân tiền không có trả. Ở vùng lúa mà có trên 30%(1) số hộ dân thiếu ăn...Ngày 03 tháng 5 năm 1983, Ban Bí Trung ương Đảng ra chỉ thị số 19-CT/TW về hoàn thành điều chỉnh ruộng đất và đẩy mạnh cải tạo quan hệ sản xuất đối với nông nghiệp Nam Bộ.
Ngày 01 tháng 12 năm 1983, Đại hội đại biểu Hội Liên hiệp Nông dân tập thể của tỉnh lần thứ III, tại Hội trường Trường Đảng Châu Văn Đặng (thị xã Bạc Liêu). Trong Diễn văn khai mạc Đại hội Bà Lê thị xuyến Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh khẳng định: Nông dân Minh hải tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng của mình, giữ vững vai trò nòng cốt cách mạng ở nông thôn với phong trào sản xuất, tiết kiệm là nhiệm vụ trung tâm hàng đầu; vận động giáo dục nông dân nhận thức được chủ trương cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, công, thương nghiệp là cuộc cách mạng sâu sắc và toàn diện, triệt để nhất.....
Toàn tỉnh có 8 nông trường, 17 hợp tác xã, 9 liên tập đoàn sản xuất, 1640 tập đoàn sản xuất và 4.664 tổ đoàn kết sản xuất, tập thể hóa 32,95% đất đai; toàn tỉnh đã điều chỉnh xong đất đai ở 217 xã, 13 ngàn hộ nông dân dư đất giao Chính quyền 22.935 ha, trang trải cho 19.339 hộ không đất và thiếu đất, ở những nơi có tổ đoàn kết sản xuất, tập đoàn sản xuất, hợp tác xã sản xuất, hầu hết đều có thành lập tổ nông dân tập thể 90% Tập đoàn viên, xã viên là Hội viên Hội Nông dân tập thể
Phong trào sản xuất, tiết kiệm là nhiệm vụ trung tâm hàng đầu, Nghị quyết của Hội Nông dân vụ mùa năm 1984 là tập trung vận động nông dân đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, phấn đấu đạt chỉ tiêu 300.000 ha gieo trồng, mở rộng diện tích lúa hè thu, để phấn đấu đạt 860.000 tấn lương thực. Tăng cường xen canh trồng các loại cây như: khóm, đậu phộng, mía, chăn nuôi heo, gà, vịt. Hoàn thành tốt nghĩa vụ với Nhà nước. Tích cực vận động các phong trào chăm lo đời sống, giúp đỡ lẫn nhau sản xuất, chăm sóc các gia đình thương binh, liệt sỹ, gia đình có công, thực hiện chính sách hậu phương quân đội, vận động hội viên nông dân góp tiền, công sức xây dựng trạm xá, trường học, làm lộ đất đỏ…
Đại hội III của Hội Nông dân tỉnh thông qua một số chỉ tiêu cụ thể đến 1985, phấn đấu đạt 1.200.000 tấn lương thực, 215.598 con heo; 107.954 ao cá; 5.397.700 con gia cầm. Trồng 10.350 cây dừa (chương trình hợp tác với Liên xô) Đẩy mạnh tuyên truyền chính sách, giúp đỡ lẫn nhau, chống cho vay nặng lãi, chống bóc lột mới. Phấn đấu cấp 100.000 thẻ hội viên.
Đại hội bầu Ông Nguyễn Văn Để - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy làm chủ tịch, Bà Lê Thị Xuyến (Hai Trung) làm phó chủ tịch; Ông Trần thanh Tâm làm Phó Chủ tịch. Hơn 01 năm sau Nguyễn Văn Để và Bà Lê Thị Xuyến được Tỉnh ủy điều động đi nhận nhiệm vụ mới. Ông Huỳnh Thanh Trâm (Bảy Thủy) được Tỉnh ủy điều động về làm Chủ tịch và các Ông Lê Văn Hiển (Ba Linh), Tô Thạnh Trị (Hai Bá), Nguyễn Thành Nhơn (Bảy Thanh) được bầu bổ sung Phó Chủ tịch BCH Hội Nông dân tập thể tỉnh.
Ngày 12 tháng 9 năm 1984, Tỉnh ủy ra Nghị quyết về tiếp tục cải tạo công thương nghiệp, khẳng định Nhà nước độc quyền mua bán nhu yếu phẩm, lúa, gạo, cám, heo, trâu bò, tập vở, rượu, thuốc lá, phân bón, xăng dầu, máy móc, tôm, cá…
Năm 1984, để rút kinh nghiệm các phong trào nông dân trong tỉnh và nâng cao chất lượng hoạt động của Hội, được sự đồng ý của Tỉnh ủy. Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Nông dân tập thể tỉnh (khóa III), tiến hành tổng kết 10 năm hoạt động và ra nhiệm vụ là: Tiếp tục tuyên truyền, giáo dục nông dân nâng cao nhận thức, trách nhiệm về quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa, vận động nông dân xây dựng tập đoàn, hợp tác xã.
Báo cáo tổng kết của Hội đã tổng hợp cơ bản các phong trào 10 năm như sau:
Đến cuối năm 1984, Sản xuất nông nghiệp có sự phát triển, diện tích trồng lúa đạt 247.958 ha, năng suất 3,29 tấn/ha, sản lượng 815.754 tấn. Nuôi tôm 45.385 ha; cá đồng 40.804 ha; heo 2.850.032 con; trâu bò 54.000 con…Dừa 17.500 ha, mía 28.921 ha, khóm 10.977 ha, đậu nành 11.112 ha; đậu phộng 11.877 ha, bố 2.267 ha, lát 4.122 ha.
Về tổ chức Hội Nông dân, Ban Chấp hành Hội Nông dân tỉnh 29 ủy viên, (có 4 nữ). 11 Ban Chấp hành Huyện, thị có 226 ủy viên (9 nữ). Có 220 Ban Chấp hành xã, phường, thị trấn với 2.560 ủy viên (có 46 nữ), 26 ủy viên là người dân tộc. 1.810 chi hội ấp, khóm, có 5.915 cán bộ, trong đó có 56 cán bộ dân tộc. 6.680 tổ Hội Nông dân tập thể, 10.500 cán bộ.
Có 121.377 hội viên (105.000 hội viên là tập đoàn viên, xã viên HTX). 87% Hộ nông dân vào tập đoàn, hợp tác xã sản xuất nông nghiệp. Hợp tác xã mua bán 183 quầy hàng ở ấp, khóm; 240 Hợp tác xã tín dụng. Thông qua hoạt động của Hội, hộ nông dân khó khăn được cứu trợ, cho vay, cho mượn tiền vốn. Hội đã có những hoạt động tích cực như thăm hỏi đồng bào bị thiên tai, bộ đội đang chiến đấu tại chiến trường và các đơn vị huấn luyện;vận động nông dân làm lộ xóm, ấp, đào hàng chục ngàn khối đất, làm hàng chục km lộ đất, đã cơ bản hình thành lộ đất đen (ấp liền ấp), làm hàng ngàn cây cầu cây bắt qua kinh rạch
Đầu năm 1985, Hội phối hợp với Ban Cải tạo nông nghiệp, Sở Nông nghiệp, Ban quản lý Hợp tác xã đào tạo 36.213 cán bộ. Phong trào hợp tác hóa được củng cố, có những bước phát triển mới, 619 tập đoàn được củng cố, nâng tổng số lên 3.376 tập đoàn; tổ chức mới 16 Hợp tác xã nông nghiệp, nâng tổng số lên 70 Hợp tác xã; 61,19% diện tích đất trồng lúa được đưa vào làm ăn tập thể. Có 99/239 xã, phường, 3 huyện, 1 thị xã đã hoàn thành cơ bản công tác cải tạo nông nghiệp.
Do phong trào phát triển chưa đều giữa các huyện, thị, xã, phường. Trước tình hình trên, để phấn đấu đạt chỉ tiêu tập thể hóa, Thường trực Tỉnh ủy chỉ thị cho các Sở, ban, ngành cấp tỉnh, huyện, thị, xã, phường cần thực hiện những nội dung sau đây:
+ Các huyện, thị, xã, phường khẩn trương làm quy hoạch tập đoàn, vận động nông dân đi vào làm ăn tập thể, tích cực mở lớp đào tạo cán bộ và tiến hành đại hội bầu ban quản lý tập thể, bắt tay ngay vào việc chuẩn bị các mặt cho sản xuất.
+ Tăng cường phân công cán bộ xuống huyện, mở lớp đào tạo cán bộ tại huyện hoặc liên xã, đảm bảo đủ số lượng và chất lương cho phong trào hợp tác hóa.
+ Công tác kiểm tra, uốn nắn, giúp đỡ cơ sở hiện nay đang là khâu yếu. Do đó đánh giá, phân lọai tập đoàn, hợp tác xã chưa đúng mực. Ban Nông nghiệp Tỉnh ủy, Sở Nông nghiệp và các cấp ủy huyện, thị, xã, phường, thị trấn phải tập huấn trong cấp ủy và cán bộ chủ chốt, nắm vững những vấn đề cơ bản về hợp tác hóa nông nghiệp và chỉ đạo thực hiện tốt khâu kiểm tra, đánh giá
+ Đối với những đơn vị phong trào hợp tác hóa còn yếu, phải tổ chức tập đoàn mới và tập trung hướng dẫn các tập đoàn yếu kém, nâng chất hoạt động đúng tính chất nội dung kinh tế tập thể XHCN, vụ mùa xong tập trung thực hiện.
+ Về tổ chức đoàn kết, cần thực hiện đúng các Chỉ thị 38, 48 của Tỉnh ủy, tức là phải quan tâm củng cố các tổ chức đòan kết sản xuất đã có; mặt khác phải tích cực tổ chức tổ đoàn kết sản xuất ở những nơi chưa có điều kiện tổ chức tập đoàn. Phấn đấu trong năm 1985 đưa hầu hết nông dân còn làm ăn cá thể vào tập đoàn sản xuất hoạt động đúng các nội dung đã đề ra.
+ Về điều chỉnh ruộng đất, tiếp tục giải quyết đất trồng lúa ở một số nơi chưa hoàn thành, hoặc còn vướng mắc trong một số hộ, nhằm đảm bảo đoàn kết, nông dân phấn khởi sản xuất, tạo thuận lợi đưa nông dân vào con đường làm ăn tập thể.
Ngày 10 tháng 6 năm 1985, Hội nghị BCH Trung ương Đảng lần thứ 8 (Khoá V) ra Nghị quyết: xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, giải quyết một bước về giá, lương, tiền. Nhưng do sai lầm trong tổ chức thực hiện các bước về giá, lương, tiền đã làm cho giá cả tăng lên đến chóng mặt. Lương thực, thực phẩm đều thiếu. Người nông dân có heo, có lúa bán cho cửa hàng lương thực thực phẩm của Nhà nước, được coi như yêu nước, nhưng giá mua thì rẻ, tiền mặt không có để trả cho dân, nhiều khi cửa hàng mua chịu. Xăng, dầu khan hiếm được phân phối theo chế độ tem phiếu; các loại nhu yếu phẩm từ xà bông, kém đánh răng, vải mặc, thuốc chữa bệnh vốn đã thiếu thốn lại bị một số cán bộ “Chia sớt”, xuống đến dân “hao nhót” không còn được bao nhiêu; phương tiện vận tải cổ lỗ, chậm chạp, không đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân. Đời sống người nông dân đã khó khăn lại càng khó khăn gay gắt.
Tuy đời sống khó khăn, nhưng trong công tác xây dựng tập đoàn, hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, Hội vẫn tập trung tuyên truyền vận động nông dân vào làm ăn tập thể. Tính đến đầu 1986, toàn tỉnh có 79 Hợp tác xã, 4.312 tập đoàn sản xuất; 87% số hộ nông dân, 70% diện tích đã đưa vào làm ăn tập thể; 8/11 huyện, thị hoàn thành cơ bản hợp tác hoá nông nghiệp. Tất cả các xã, phường, thị trấn đều có Hợp tác xã mua bán, các quầy bán lẻ vươn xuống các ấp.
Tổ chức Hội Liên hiệp Nông dân tập thể tiếp tục được củng cố. Tỉnh uỷ chỉ đạo các xã: Đảng ủy xã có 7 ủy viên BCH trở lên phải cử 1 cấp ủy viên giữ cương vị Chủ tịch Hội Nông dân tập thể.
Cơ quan Hội liên hiệp Nông dân tập thể cấp huyện có từ 9 đến 11 cán bộ chuyên trách (riêng huyện U Minh, Ngọc Hiển bố trí 5 cán bộ chuyên trách). Ban Chấp hành Hội Nông dân tập thể cấp huyện cơ cấu 29 đến 35 ủy viên gồm: đại diện Hợp tác xã, tập đoàn sản xuất, đại diện Hội phụ nữ, Huyện đoàn và đại diện của các Phòng, Ban Nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy lợi, giao thông…Cấp xã, BCH Hội liên hiệp Nông dân tập thể có 13 đến 15 ủy viên, trong đó có 3 cán bộ chuyên trách.
Hội Liên hiệp Nông dân tập thể chú ý đặc biệt đến công tác đào tạo cán bộ. Năm 1985, đã mở 4 lớp bồi dưỡng cho 800 cán bộ, hội viên nòng cốt. Cấp Hội huyện mở 6 lớp cho 600 cán bộ nòng cốt. Cấp xã tập huấn ngắn ngày cho hội viên mỗi lớp có 50 đến 80 người.
Những năm tháng đầu tiên xây dựng CNXH, dù hình thức làm ăn và cách thức tổ chức xã hội theo chủ trương của Đảng và Nhà nước, và có một số yếu tố chủ quan ít nhiều tác động tiêu cực đến đời sống và sản xuất của nông dân. Nhưng nông dân Minh Hải - Cà Mau vẫn tin theo Đảng, cùng Đảng vượt qua những khó khăn trước mắt.
Thời kỳ sau giải phóng 1975 – 1986 là thời kỳ đầu xây dựng Chủ nghĩa xã hội trên cả nước. Là thời kỳ thực hiện những nhiệm vụ kinh tế - xã hội theo mô hình Chủ nghĩa xã hội kiểu cũ. Thực hiện những nhiệm vụ cơ bản của thời kỳ này Hội Nông dân giải phóng, Nông Hội, Hội Liên hiệp Nông dân tập thể tỉnh Minh Hải (nay là tỉnh Cà Mau và tỉnh Bạc Liêu) luôn giữ vững và duy trì được tổ chức và hoạt động, được đông đảo nông dân tin và gia nhập Hội. Hội đã được củng cố và kiện toàn từ tỉnh đến ấp (kể cả trong khi TW có chủ trương sáp nhập tổ chức Hội); tổ chức Hội nông dân trong tỉnh đã thể hiện được vai trò, nhiệm của mình là: Tổ chức tuyên truyền giáo dục, vận đọng và tập hợp hội viên nông dân chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước một cách sáng tạo. Sự sáng tạo ấy là sự chủ động vận động nông dân vượt khó để sản xuất, xây dựng nông thôn mới; hoạt động của Hội luôn hướng về nông dân, động viên nông dân phát huy truyền thống cách mạng, truyền thống giai cấp, tổ chức nông dân giúp đỡ lẫn nhau, nhường cơm, xẻ áo, cứu giúp nhau trong lúc khó khăn.
Hội đã thể hiện là một tổ chức chính trị - xã hội của nông dân, được hội viên nông dân đồng tình, giải quyết được những khúc mắc về tâm trạng, nguyện vọng của nông dân, giáo dục động viên nông dân giữ vững niềm tin vào Đảng. Kiên trì trong xây dựng tổ chức hội, ổn định và giữ vững hệ thống tổ chức Hội từ tỉnh đến cơ sở; cùng Đảng, Chính quyền, Mặt trận tuyên truyền vận động nông dân xây dựng quê hương sau chiến tranh, chuẩn bị tiền đề cho các bước phát triển tiếp theo.
CHƯƠNG VIII
PHONG TRÀO NÔNG DÂN TRONG TỈNH THỰC HIỆN
CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2000
I. PHONG TRÀO NÔNG DÂN TRONG GIAI ĐOẠN ĐẦU CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI (1986 – 1996)
1. Ở THỜI KỲ ĐẦU CỦA CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI
Đại hội Đảng Toàn quốc lần thứ VI đề ra đường lối đổi mới, mở ra cơ chế mới; đồng thời đổi mới tư duy, nhất là tư duy kinh tế, đã tạo cơ sở cho sự chuyển biến quan trọng trong quản lý kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước ta.
Ngày 18 tháng 02 năm 1987, Ban Bí thư ban hành Thông tri số 04-TT/TW về việc tổ chức Đại hội 3 Đoàn thể trong năm 1987.
Ngày 24 tháng 3 năm 1987, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số 05/CT-TW về tổ chức Hội Liên hiệp Nông dân tập thể Việt Nam và Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ Nhất, Hội Liên hiệp Nông dân tập thể Việt Nam. Đảng ta khẳng định: Nông dân nước ta chiếm đại bộ phận dân số, có truyền thống yêu nước và cách mạng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông dân đã có những cống hiến to lớn và quan trọng cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội.
Vai trò của Hội Liên hiệp Nông dân tập thể Việt Nam được xác định: Hội là một tổ chức chính trị - xã hội rộng rãi của nông dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng, có nhiệm vụ:
- Tập hợp, đoàn kết, giáo dục nông dân thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
- Tổ chức các phong trào cách mạng của nông dân trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là việc phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, xây dựng quan hệ sản xuất mới ở nông thôn.
- Tham gia xây dựng và giám sát, kiểm tra việc thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật, kế hoạch, cơ chế quản lý có quan hệ đến nông dân và sản xuất nông nghiệp, đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực.
- Chăm lo lợi ích vật chất và tinh thần của nông dân.
Địa bàn hoạt động chủ yếu của Hội Liên hiệp Nông dân tập thể là cơ sở xã, phường, thị trấn. Dưới Ban Chấp hành cấp xã là các Chi hội và các tổ hội viên.
Hội Liên hiệp Nông dân tập thể là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và ở trong khối Dân vận, có quan hệ chặt chẽ với khối Nông nghiệp.
Xây dựng Hội tiến tới tự lo, tự quản về kinh phí hoạt động. Trước mắt, Nhà nước cấp kinh phí và tạo điều kiện hoạt động của Hội...
Hội Nông dân tỉnh Minh Hải tiến hành kiện toàn tổ chức Hội, đến cuối năm 1987, toàn tỉnh đã tổ chức Hội nghị hội viên các tổ hội, chi hội; kết quả 3.873/8.809 tổ hội nghị bầu dân chủ 9.796 tổ trưởng, tổ phó, trong đó có 1.076 nữ (theo hình thức bầu trực tiếp); Đại hội 1.073/1.167 chi hội (đạt 90,5%), bầu dân chủ 3.054 ủy viên Ban cán sự (có 303 nữ) có 134 cán bộ là người dân tộc.
Cấp cơ sở, tiến hành Đại hội 179/189 xã, phường, thị trấn (đạt 90%), bầu 7.443 ủy viên BCH (có 243 nữ), 845 cán bộ chuyên trách, 64 đơn vị có xã ủy viên, chi ủy viên làm chủ tịch BCH Hội; có 165 đảng viên và 70 cán bộ ngoài Đảng làm chủ tịch, phó chủ tịch BCH.
Tổ chức Đại hội Đại biểu 11/11 huyện, thị, bầu 11 BCH có 269 ủy viên (trong đó có 29 nữ), có 44 xã ủy viên, 151 đảng viên, 2 kỹ sư nông nghiệp được cơ cấu vào BCH, bầu 11 Ban Thường vụ có 67 ủy viên, 10/11 chủ tịch Hội Nông dân huyện, thị là huyện ủy viên, thị ủy viên.
Ngày 15 tháng 3 năm 1987, Đại hội đại biểu Hội Liên hiệp Nông dân tập thể tỉnh Minh Hải lần thứ IV được tổ chức tại Trường trung cấp Nông nghiệp (phường 9, thị xã Cà Mau). Đại hội thông qua báo cáo và phương hướng hoạt động của Hội và bầu BCH Hội Nông dân tỉnh khóa IV gồm 35 ủy viên (trong đó có 11 nữ). Ông Huỳnh Thanh Trâm (Bảy Thủy) được bầu làm Chủ tịch, các Ông Nguyễn Thành Nhơn, Đào Công Tâm (Năm Nhãn), Ông Phan Tấn Khanh được bầu làm phó chủ tịch
Tại Minh Hải, khi bước vào công cuộc đổi mới, hầu hết các tập đoàn và Hợp tác xã đều yếu. Để cải tạo XHCN trên lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp. Tỉnh ủy Minh Hải chủ trương củng cố quan hệ sản xuất mới, trong xác định quá trình tiến hành cải tạo và xây dựng coi trọng hình thức tập dợt, tổ chức rộng rãi liên tập đoàn sản xuất, nhằm liên kết kinh doanh, phát triển ngành nghề, tăng thu nhập cho người lao động. Chỉ tổ chức Hợp tác xã ở những nơi quần chúng thật sự tự nguyện, cơ sở vật chất kỹ thuật bước đầu được xây dựng, năng suất lao động tăng, sản xuất phát triển, đời sống của xã viên được cải thiện, năng lực quản lý của cán bộ khá hơn tập đoàn. Mở rộng được ngành nghề sản xuất. Các huyện, thị cần tổ chức thí điểm các hợp tác xã kinh doanh tổng hợp để tăng thu nhập cho xã viên.
Trong 02 năm 1987 - 1988, tập trung củng cố, nâng cao chất lượng tập đoàn, hợp tác xã hiện có, làm cho các tập đoàn, hợp tác xã thật sự là đơn vị kinh doanh tập thể XHCN. Đối với các tổ đoàn kết sản xuất vừa củng cố số hiện có, vừa phát triển mới, phấn đấu đến năm 1990, đưa hết nông dân vào làm ăn tập thể với hình thức phổ biến là liên tập đoàn và hợp tác xã quy mô vừa và nhỏ thích hợp với năng lực quản lý và trình độ của nông dân, (Vì khi tập đoàn, hợp tác kiểu cũ tan rã, hầu hết bà con làm ăn cá thể đều nằm trong tổ đoàn kết sản xuất do Hội nông dân thành lập).
Ngày 01/3/1988, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Quyết định số 42 – QĐ/TW về việc đổi tên Hội Liên hiệp Nông dân tập thể Việt Nam thành Hội Nông dân Việt Nam. Từ ngày 27 tháng 3 đến ngày 29 tháng 3 năm 1988 tại Hội trường Ba Đình, Hà Nội. Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ Nhất được tổ chức. Nghị quyết của Đại hội đã khẳng định: Hội Nông dân Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp nông dân, đoàn kết chặt chẽ với các tổ chức thành viên khác trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quyết tâm tiến theo con đường cách mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra. Năm 1989 BCH Trung ương Hội Nông dân Việt Nam phối hợp với Bộ Nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm triển khai nghị quyết liên tịch phong trào vận động nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh.
Tại tỉnh Minh Hải, ngày 26 tháng 01 năm 1989, Ông Vũ Anh Kiệt về nhận nhiệm vụ tại Hội Nông dân tỉnh, được Ban Chấp hành bầu làm Chủ tịch BCH Hội Nông dân tỉnh (thay Ông Huỳnh Thanh Trâm (Bảy Thủy) đi trị bệnh) và bổ sung ông Phan Thanh Hùng (Năm Hùng) làm Phó Chủ tịch.
Triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội của tỉnh và Trung ương Hội, phong trào nông dân trong tỉnh phát triển mạnh mẽ; trên lĩnh vực sản xuất đặc biệt là nuôi tôm tự nhiên, diện tích nuôi mới tăng thêm 4.000 ha. Hội viên nông dân các xã Nguyễn Huân, Tân Tiến, Tân Thuận (Đầm Dơi); Đất Mũi, Tam Giang, Đất Mới (Ngọc Hiển), Cái Đôi Vàm (Cái Nước), vừa đánh bắt hải sản trên biển, vừa mở rộng diện tích nuôi tôm kết hợp với trồng rừng và bảo vệ rừng. Phong trào cải tạo vườn tạp trên 10.000 ha, các huyện Thới Bình, U Minh, Trần Văn Thời phát động nông dân khôi phục lại vườn dừa, trồng rau, màu, trồng điều, trồng tiêu, trồng cà phê, nuôi heo, gà, vịt, nuôi cá ao, hồ, khôi phục diện tích nuôi cá đồng.
Phương châm‘‘Nhà nước và nhân dân cùng làm’’, trong xây dựng cơ sở hạ tầng (cầu, đường, trường học), đánh trúng ý dân, nông dân tích cực hiến đất, đóng góp công sức, tiền của cùng địa phương xây dựng trường học, phòng học, làm lộ làm cầu xóm, ấp. Hội viên nông dân đã hiến hàng trăm ha đất để làm điểm xây trường, xây dựng 737 điểm học mới, (trong đó có 200 điểm học được xây cơ bản), nông dân góp cây đóng mới 5.638 bộ bàn ghế học sinh; đóng góp hàng trục ngàn ngày công làm hàng ngàn km lộ xóm, ấp bằng đất đen, xây dựng hàng ngàn cây cầu ván đôi tại các điểm trường học. Tuy vậy, trường học, lộ nông thôn của các xã trong giai đoạn này còn hết sức khó khăn, tạm bợ (chủ yếu cây lá địa phương). Cũng trong giai đoạn này việc vận chuyển hàng hóa vào mùa khô bằng xuồng và ghe nông dân gặp rất nhiều trở ngạy vì các con đập ngăn mặn giữ ngọt (phải bốc dỡ hàng hóa mới kéo xuồng qua đập). Ông Trương Văn Ẩn và con là Trương Văn Thắng, hội viên nông dân ấp Tân Long A, xã Tân Tiến huyện Đầm Dơi có sáng kiến kéo xuồng qua đập, lúc đầu cầu kéo làm bằng cây gỗ địa phương, trục quay bằng tay, sau này cầu kéo được cải tiến (cầu kéo bằng bê tông, quay bằng máy) để kéo ghe, xuồng qua đập. Từ sáng chế ra cầu kéo (năm 1987) đến năm 1990 đã được phổ biến trong toàn tỉnh.
Công tác xã hội, được các cấp hội quan tâm đặc biệt vùng sâu, nơi có nhiều người dân tộc, nhiều gia đình thiếu ăn, phải bán lúa non. Với phong trào ‘‘Tương thân, tương ái, lá lành đùm lá rách’’ Hội đã vận động hội viên 110.376 kg gạo, 882 giạ lúa và 2.684.929 đồng, cho cây lá sửa chữa 262 căn nhà ở giúp đỡ hộ nghèo, hộ gặp hoàn cảnh khó khăn. Chi tổ Hội tích cực tham gia công tác giữ gìn trật tự xóm ấp, cùng với Chính quyền, Mặt trận và các Đoàn thể động viên hội viên tham gia xây dựng dân quân, tự vệ đạt 13.358 lực lượng, vận động 24.000 thanh niên nông thôn nhập ngũ; vận động 550 hộ (2.500 khẩu có 1.330 lao động) đi xây dựng vùng kinh tế mới. Vận động nông dân nộp thuế 29.879 tấn.
Thực hiện chủ trương, chính sách đổi mới của Đảng trên lĩnh vực nông nghiệp (tính từ khi có Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 05 tháng 4 năm 1988 của Bộ chính trị và Chỉ thị số 36-CT/TW cụ thể hoá nhằm thực hiện Nghị quyết 10), trong nông thôn xuất hiện việc nông dân đòi lại đất (nguyên nhân cơ bản là khi thực hiện Chỉ thị 57-CT/TW ngày 15/11/1978 về xoá bỏ các hình thức bóc lột của địa chủ, tư sản nông thôn, đẩy mạnh công tác cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp ở miền Nam, thực hiện chính sách hạn điền, những gia đình dư đất phải chia đất lại cho những gia đình không có đất hoặc thiếu đất, trong đó có cả những gia đình thuộc diện chính sách). Trong thời kỳ đầu của công cuộc đổi mới nhiều tập đoàn và Hợp tác xã không hoạt động, một số Hợp tác xã tan rã và ruộng đất của ai thì người đó làm. Trong 3 năm (1987, 1988, 1989) nội bộ nông dân xẩy ra tranh chấp ruộng đất giữa các hộ trước đây thuộc diện phải trang trải số ruộng dôi ra và Ban quản lý hợp tác sản xuất, tập đoàn sản xuất và chính quyền chuyển cho các hộ thiếu đất hoặc không có đất làm (thậm chí có hộ trước đây đã hiến đất cho chính quyền nay cũng đòi lại đất). Tranh chấp ruộng đất xảy ra ở hầu hết các địa phương trong tỉnh, trong nông dân; vào thời vụ sản xuất có những mảnh ruộng người này cấy, người kia phá. Cấp ủy Đảng, Chính quyền, Mặt trận, các đoàn thể, Hội Nông dân phải dồn sức giải quyết tranh chấp ruộng đất trong nội bộ nông dân. Dần dần giảm bớt căng thẳng, từng bước hàn gắn tình làng nghĩa xóm và ổn định một bước về ruộng đất. Vụ mùa năm 1987 - 1988, thời tiết khắc nghiệt, sau mưa ít ngày, nắng hạn kéo dài, có gia đình phải sạ 2 đến 3 lần, có nơi phải bỏ hoang (diện tích bỏ hoang toàn tỉnh trên 20.000 ha). Sau hạn là dịch sâu rầy gây thiệt hại lớn ở Đầm Dơi, Thới Bình, U Minh, đời sống nông dân ở nhiều vùng lâm vào cảnh khó khăn.
Hoạt động của các tổ chức Đoàn thể chính trị - xã hội theo mô hình bao cấp đã bộc lộ sự lạc hậu. Trước đòi hỏi của thực tiễn, ngày 12/02/1990, Ban Chấp hành Trung ương đã họp Hội nghị lần thứ 8 (Khoá VI) ra Nghị quyết về Đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân. Theo tinh thần nội dung Nghị quyết TW 8B của BCH Trung ương Đảng (Khoá VI) ngày 27 tháng 3 năm 1990.
Ngày 20 tháng 5 năm 1991, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 69-CT/TW lấy ngày 14/10/1930 là ngày thành lập Hội Nông dân Việt Nam
Ban Thường vụ Tỉnh ủy Minh Hải ban hành Chỉ thị số 29-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của các Cấp ủy đối với Hội Nông dân trong tình hình mới.
Tại Minh Hải (Cà Mau), mô hình xã viên, tập đoàn viên đồng nhất là hội viên không còn phù hợp; công tác tuyên truyền nặng về vận động nghĩa vụ trách nhiệm…đã và đang nẩy sinh nhiều vấn đề. Nổi lên rỏ nhất là hội viên bỏ Hội, không tham gia sinh hoạt, không phát huy được vai trò nòng cốt nên rất khó tập hợp được nông dân vào Hội Nông dân.... nhiều địa bàn tổ chức hội chỉ là hình thức không gắn kết được sản xuất, đời sống của nông dân vào thời điểm này nhiều chi, tổ hội có trên 50% hội viên không tham gia sinh hoạt Hội.
Thực hiện sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Hội Nông dân tỉnh khóa IV ban hành Chỉ thị số 01, 02 cốt lõi là chuyển hoạt động của Hội Nông dân theo hướng chủ động, hướng tới lợi ích thiết thực của Hội viên, nông dân, đa dạng về loại hình tập hợp nông dân để nắm dân và đổi mới nội dung hoạt động.
Công cuộc đổi mới của Đảng và nhân dân ta tuy giành được những thắng lợi quan trọng, nhưng khó khăn còn hết sức gay gắt, đặc biệt là sự khủng hoảng niềm tin, sau sự sụp đổ của Chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước phe xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, sự tan rã của quan hệ sản xuất kiểu cũ… đã và đang tác động mạnh đến tư tưởng, tâm trạng của nông dân.
Vững vàng trên quan điểm Công – Nông liên minh. Nghị quyết Trung ương 8A đã đánh giá tình hình thế giới, đồng thời khẳng định rõ: Đảng Cộng sản Việt Nam không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Nghị quyết Trung ương 8B về đổi mới công tác vận động quần chúng, đã thật sự làm chuyển biến nội dung và phương thức vận động quần chúng của Đảng, tạo niềm tin trong nhân dân.
Tại Minh Hải (Cà Mau) hoạt động của tổ chức Hội Nông dân đã có sự chuyển biến theo hướng, hướng tới những nguyện vọng và lợi ích chính đáng của nông dân. Hội tập trung tuyên truyền, vận động hội viên nông dân nâng cao tinh thần cách mạng, giáo dục và khơi dậy tuyền thống Dân với Đảng – Đảng với Dân, tin tưởng vào đường lối, chính sách của Đảng, động viên nông dân sản xuất, phát triển kinh tế, cải thiện đời sống, nâng cao mức sống cho hộ nghèo và làm tốt nghĩa vụ với Nhà nước.
Vào vụ mùa năm 1990 - 1991, tuy nắng hạn, sâu rầy, nhưng diện tích gieo trồng đạt 159.688 ha, tăng 20.000 ha. Nuôi tôm tự nhiên xuất hiện khá phổ biến ở Ngọc Hiển, Đầm Dơi, Cái Nước. Các nông, lâm trường, đặc biệt là các nông trường bắt đầu thực hiện khoán hộ, giao đất cho hộ nông dân chủ động sản xuất. Người dân quan tâm hơn đến nghề chăn nuôi, trồng rau màu; đến cuối năm 1990 đàn heo 141.551 con, 1.631.748 con gia cầm, trâu bò 24.239 con, rau màu 27.200 ha, dừa 26.136 ha, chuối trên 7.000 ha.
Để mở rộng diện tích nuôi tôm, rừng ngập mặn bắt đầu bị phá. Bà con nông dân phá rừng để đốt than, để làm củi, làm nhà, đồng thời để mở rộng diện tích nuôi tôm. Vùng lúa, cá đồng trước đây cho thu hoạch lớn nhưng không bằng nuôi tôm; ở một số nơi lúc này xuất hiện người nông dân vừa trồng lúa và nuôi tôm gọi là phong trào “Con tôm ôm gốc lúa”.
Chương trình ngọt hoá bán đảo Cà Mau bắt đầu được khởi động. Tỉnh Minh hải (Cà Mau), Tỉnh ủy, UBND tỉnh tuy đã xác định thủy sản là ngành kinh tế mũi nhọn, nhưng vẫn tiếp tục thực hiện ngăn mặn, giữ ngọt, đầu tư xây dựng hệ thống đê bao ngăn mặn; để đảm bảo nguồn nước ngọt cho diện tích trồng lúa, tỉnh đã huy động mọi nguồn lực, bồi đắp 186.788 m đê bao, đắp 1.312 con đập, đào 21 con kinh tiêu úng, xổ phèn. Thời gian này, tranh chấp đất đai tiếp tục xảy ra (toàn tỉnh có tới 7.823 vụ). Chính quyền, Mặt trận và các Đoàn thể, Hội Nông dân tiếp tục hoà giải, giải quyết việc tranh chấp và động viên nông dân hàn gắn tình đoàn kết. Sau 1990 trở đi, sản xuất từng bước ổn định, nông dân làm nghĩa vụ khá tự giác và đầy đủ, nhất là hoàn thành nghĩa vụ thuế.
Tổ chức Hội tiếp tục được củng cố về tổ chức về cán bộ. Ban Chấp hành cấp tỉnh thời gian này có 19 ủy viên. Cấp huyện có 11 BCH huyện, thị đã Đại hội theo nhiệm kỳ xong, bầu 185 Ủy viên chấp hành, 61 Ủy viên Thường vụ, 63 cán bộ chuyên trách. Cấp cơ sở, tính đến cuối 1990, Đại hội được 135/185 xã, phường, thị trấn, bầu 1.508 Ủy viên chấp hành (112 nữ), 28 ủy viên là người dân tộc, có 141 Ủy viên thường vụ, có 47 xã ủy viên, chi ủy viên và 176 đảng viên được cấp ủy phân công làm chủ tịch, phó chủ tịch BCH Hội Nông dân cơ sở.
Ấp, khóm thành lập mới 30 chi hội, bầu và củng cố 717 chi hội, 1.920 ủy viên, có 717 chi hội trưởng, 1.173 chi hội phó và ủy viên, 39 ủy viên là người dân tộc. Phát triển thêm 125 tổ hội, nâng toàn tỉnh có 1.785 tổ hội, có 1.085 tổ trưởng, 1.835 tổ phó. Kết nạp mới 6.054 hội viên, đến thời điểm này hội viên toàn tỉnh còn 60.942(1) người, trong đó 1.580 hội viên dân tộc Khmer, 3.960 hội viên tôn giáo; cấp thẻ 16.609 hội viên. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ được quan tâm có 963 cán bộ cơ sở được bồi dưỡng về nghiệp vụ hội, 11 cán bộ chủ chốt được học bồi dưỡng các lớp nghiệp vụ của Trung ương Hội mở.
Vào thời điểm này, các tổ ngành nghề ở nông thôn phát triển mạnh, Hội cơ sở đã chủ động thành lập được 1.386 tổ, tập hợp 30.647 hội viên, nông dân vào tổ ngành nghề. Từ thực tiển trong công tác tập hợp nông dân, BCH Hội Nông dân tỉnh đã ban hành chủ trương thành lập Tổ Nông dân đoàn kết, hợp tác phát triển sản xuất (để tập hợp nông dân sau khi tập đoàn tan rã) và được Ủy ban nhân dân tỉnh đồng tình ban hành giấy phép số 02/1991 cho phép Hội Nông dân triển khai thực hiện trong toàn tỉnh. Thông qua Tổ Nông dân đoàn kết, hợp tác phát triển sản xuất, Ngân hàng nông nghiệp cho nông dân vay vốn sản xuất, đã giải quyết một phần bức sút về vốn mua cây, con giống, phân thuốc sản xuất của người dân.
Sau khi đi khảo sát tình hình nông dân trong các nông, lâm trường và nông dân làm nghề nuôi trồng, khai thác thủy sản. Ban chấp hành Hội Nông dân tỉnh Minh Hải (Cà Mau) đã chủ trương xây dựng tổ chức Hội, phát triển hội viên làm nghề nuôi trồng, khai thác thủy sản vùng ven biển. Bước đầu tập trung ở cửa biển Sông đốc, Gành hào và nông dân ở một số cụm dân cư ven biển, kết quả sau một thời gian chỉ đạo, Hội đã kết nạp trên 10 ngàn nông dân ven biển, ven rừng vào tổ chức Hội
Năm 1990, tại tỉnh diễn ra sự kiện Bãi Bồi vùng biển Tây. Đây là vùng đất phù sa bồi lắng, liên tục vươn ra biển, sôi động nhất là vùng từ mũi Cà Mau sang đến vùng Cái Đôi Vàm. Vùng này, tôm, cua và các loại sinh vật biển vào sống và sinh sản tạo nên một tiềm năng rất lớn. Thực hiện chủ trương của Chính phủ cho phép khai phá nuôi trồng một phần vùng này, tỉnh đã đưa một số gia đình chính sách, gia đình nghèo xuống khai hoang để nuôi trồng thủy - hải sản. Khi làm vuông nuôi tôm, thu cao, người dân tứ xứ kéo xuống để làm thuê làm mướn kiếm sống. Thấy làm được người dân tự ý bao chiếm, phá rừng, giành đất, kéo theo các tệ nạn xã hội, trở thành một điểm nóng. Đảng bộ, Chính quyền, Mặt trận, các Đoàn thể và Hội Nông dân trong tỉnh tập trung tuyên truyền giải thích, vận động, thậm chí phải dùng đến cả những hành vi cưỡng chế mới giải tỏa được vùng bãi bồi, tạm thời đưa vùng bãi tự nhiên trở lại vị trí là vùng bảo tồn quý giá về nguồn lợi thủy sản của tỉnh và của Tổ quốc.
Sự kiện bãi bồi trở thành một trong những bài học quý về bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ an ninh trật tự ở vùng biển Tây; sự kiện Bãi Bồi để lại nhiều bài học quý trong công tác vận động quần chúng và công tác quản lý nhà nước của các cấp chính quyền ở địa phương. Bên cạnh sự kiện Bãi Bồi, những năm này xuất hiện hiện tượng một số bà con nông dân lén lút nuôi tôm trên đất trồng lúa, xẩy ra hiện tượng ở một số địa bàn nông dân phá đập đưa nước mặn vào ruộng trồng lúa để nuôi tôm.
Những năm đầu của công cuộc đổi mới, tình hình kinh tế, chính trị-xã hội của đất nước ngày càng có xu hướng ổn định và phát triển. Năm 1989, ta từ chỗ thiếu đói phải nhập gần 1 triệu tấn lương thực thì đã có gạo xuất khẩu, đồng thời giải quyết cơ bản hàng tiêu dùng. Việt Nam rút quân khỏi Campuchia và ta có bước bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc. Đây cũng là năm nhưng ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng, sụp đổ của các nước thuộc phe xã hội chủ nghĩa ở Đông âu và Liên xô là rất lớn. Trong giai đoạn này, Nông dân và Hội Nông dân Minh Hải tuyệt đối tin tưởng vào Đảng cộng sản Việt Nam, tin vào đường lối đổi mới do Đảng ta lãnh đạo, chung sức đưa công cuộc đổi mới đi vào hiện thực, đã tích cực phấn đấu vượt qua những khó khăn thách thức, đoàn kết vươn lên sản xuất, ổn định đời sống. Không chấp nhận đa nguyên, đa đảng, góp phần bảo đảm an ninh chính trị, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, tạo ra nền tảng chính trị quan trọng, góp phần cùng cả nước đứng vững đi lên, bảo đảm cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong những năm đầu của công cuộc đổi mới vì chủ nghĩa xã hội trên quê hương.
2. NÔNG DÂN CÀ MAU TRONG THỜI KỲ ĐẦU CỦA PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Tình hình thế giới cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 của thế kỷ XX có nhiều biến động. Thế giới từ đối trọng, chiến tranh lạnh trở thành một thế giới có xu hướng đa cực hoặc đơn cực do Mỹ đứng đầu. Thế giới bước vào quá trình hình thành một trật tự thế giới mới. Tại Trung Quốc, công cuộc cải cách, mở cửa thành công. Tại Việt Nam, sự sụp đổ của các nước chủ nghĩa xã hội hiện thực tại Đông âu, ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng và niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Các thế lực phản động với các chiêu bài “Dân chủ”, “Nhân quyền, tự do”... cùng với chiến lược “Diễn biến hòa bình” để tấn công vào chế độ ta, đất nước ta.
Trước muôn vàn khó khăn, Đảng ta kiên định lập trường, tại Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ VII của Đảng: khẳng định đường lối đúng đắn của công cuộc đổi mới. Đại hội đã phát triển quan điểm nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần thành, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước. Đại hội đã thông qua cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000. Đại hội khẳng định nền tảng tư tưởng của Đảng ta là chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Ngày 27 tháng 10 năm 1991, tại Nhà Văn hoá Trung tâm tỉnh, Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ IX khai mạc. Đồng chí Nguyễn Văn Đáng (Tư Huờn - được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy). Hội nghị Đại biểu Đảng bộ giữa nhiệm kỳ (khoá IX) đồng chí Đặng Thành Học được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy.
Ngày 28 tháng 11 năm 1991, Đại hội đại biểu Hội Nông dân Việt Nam tỉnh Cà Mau lần V, được tổ chức tại hội trường Trường Chính trị tỉnh đã ra Nghị quyết về đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Hội Nông dân và phong trào nông dân của tỉnh trong tình hình mới. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành 31 ủy viên, Ban Thường vụ 9 ủy viên, Ông Vũ Anh Kiệt được tái đắc cử Chủ tịch BCH. Các phó Chủ tịch: Ông Đào Công Tâm (Năm Nhãn), Ông Phan Thanh Hùng (Năm Hùng), Ông Lê Tân Thuận (Bảy Thuận).
Ngày 13 và 14 tháng 10 năm 1991, được Tỉnh ủy thống nhất, tại Hội trường UBND tỉnh Minh Hải, lần đầu tiên BCH Hội Nông dân tỉnh tổ chức mít tin trọng thể kỷ niệm 61 năm (14/10/1930 – 14/10/1991) thành lập Hội Nông dân Việt Nam và Hội thảo truyền thống nông dân Minh Hải và Tại Hội thảo BCH Hội Nông dân tỉnh đã đề nghị truy tặng 59 huy chương “Vì giai cấp nông dân Việt Nam” cho những cán bộ, hội viên nông dân có thành tích xuất sắc cống hiến cho phong trào nông dân và Hội Nông dân, trong đó có nông dân Nguyễn Văn Chức (Mười Chức), Bùi Thị kẹo, Nguyễn Thị Nghĩa, Nguyễn Thị Chín (Chín Giỏi), Nguyễn Thị Út (Ut Trong) ở đồng Nọc Nạng, Trần Kim Túc (Chủ Chọt) ở Ninh Thạnh Lợi.
Ngày 14 tháng 10 năm 1991, các huyện, thị đồng loạt tổ chức họp mặt truyền thống kỷ niệm ngày thành lập Hội Nông dân Việt Nam.
Tính đến 1993, trong toàn tỉnh Minh Hải(1) có 9 huyện, 2 thị xã, 119 xã, phường, thị trấn. Dân số 1.662.882 người (người Kinh 1.450.199 người). Người dân sống ở nông thôn và ven đô thị là 241.379 hộ, 1.334.825 khẩu, 595.732 lao động (trong đó lao động nông nghiệp chiếm 78%). Trong 119 xã, phường, thị trấn có 117 xã, phường, thị trấn có tổ chức Hội Nông dân (có 2 phường không có tổ chức Hội Nông dân). Trong 1.128 ấp, còn 17 ấp người dân làm nghề khai thác biển và nghề rừng chưa có tổ chức Hội. Trong giai đoạn này, chi Hội được xây dựng theo 2 loại hình: Ấp có nhiều chi hội, chi hội là đơn vị hành động, tổ chức chi theo ngành nghề như chi Hội nuôi cá, chi Hội nuôi tôm, chi Hội trồng lúa, chi Hội VAC, làm vườn, trồng màu và loại hình tổ chức chi Hội theo địa bàn hành chính ấp, khóm có 1 chi hội, dưới chi có tổ hội viên.
Toàn tỉnh có 1.170 chi hội, 717 ủy viên Ban Chấp hành chi hội, có 1.685 tổ hội và 102.368 hội viên (số lượng hội viên đạt 1/5 trong tổng số người từ 18 tuổi trở lên). Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội ở cơ sở chỉ có phụ cấp (không có lương), chi hội trưởng không có phụ cấp, rất khó khăn kinh phí, phương tiện hoạt động. Nhiều cơ sở đã có đổi mới về hình thức tập hợp nông dân, nhưng chưa đổi mới được nội dung sinh hoạt động, vận động. Các đầu công việc của BCH Hội xã, phường, thị trấn chờ cấp ủy, chính quyền phân công, rất ít sáng tạo, sự phối hợp giữa tổ chức Hội Nông dân với các tổ chức chính trị - xã hội, các ngành rất hạn chế.
Tháng 4/1992, Hội Nông dân tỉnh chủ động khảo sát tình hình đời sống của nông dân ở 11 đơn vị huyện và thị xã, khảo sát trực tiếp 87 ấp, khóm của một số xã, phường, thị trấn và lâm ngư trường. BCH Hội Nông dân tỉnh đã kiến nghị các cấp chính quyền trong tỉnh đẩy mạnh việc tổ chức triển khai và thực hiện các chương trình và chính sách hỗ trợ người dân xoá đói giảm nghèo, cho hộ nghèo vay vốn lãi xuất thấp để mua con giống, cây giống, có chính sách cho hộ nghèo nhận khoán đất rừng được vay vốn… đặc biệt là những hộ trong diện chính sách đã cầm cố ruộng đất cho người khác, cho hộ nghèo vay vốn để chuộc lại đất; tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật sản xuất, chính sách hỗ trợ tìm việc làm mới cho nông dân.
Trong chỉ đạo, Hội chủ động vận động hộ nghèo vào các Tổ nông dân đoàn kết, hợp tác phát triển sản xuất để hướng dẫn làm ăn, tạo việc làm, tạo điều kiện cho nông dân tiếp cận các vốn tín dụng của Ngân hàng nông nghiệp và nguồn vốn quỹ 120 giải quyết việc làm. Phát động nông dân nghèo thi đua vượt khó thoát nghèo.
Ban Chấp hành Hội Nông dân tỉnh (khóa V), tại Hội nghị ngày 10 tháng 11 năm 1992, BCH tỉnh đã thông qua "Chương trình từng bước cải thiện đời sống nông dân, nâng cao dần mức sống đối với nông dân nghèo”. Phát động tương thân tương ái trong nội bộ nông dân để giúp nông dân nghèo có công ăn việc làm, có giống, vốn sản xuất với mục tiêu giảm hộ nông dân đói, nghèo. Chủ động hỗ trợ nông dân tiếp cận nguồn vốn ưu đãi, nâng cao trách nhiệm hướng dẫn cho hộ nghèo cách thức sản xuất… BCH Tỉnh Hội yêu cầu các cấp Hội trong chỉ đạo làm phải chặt chẽ, không làm tràn lan; tập trung vận động các hộ nghèo, vùng nghèo không ỉ lại, vừa chăm lo sản xuất vừa tiết kiệm để vươn lên.
Thực hiện Nghị quyết Đại Hội II (1993) Hội Nông dân Việt Nam “Đổi mới tổ chức, nội dung và phương thức hoạt động”. Hội Nông dân tỉnh đã đề ra nhiệm vụ và các giải pháp:
Một là, giải quyết về nhận thức, đổi mới nhận thức: Hội là một tổ chức chính trị - xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Công tác xây dựng tổ chức, tập trung triển khai và tổ chức thực hiện chủ trương của Trung ương Hội (Chỉ thị 499/CT-HND)chuyển các chi, tổ sang hoạt động theo ngành nghề và dịch vụ. Xây dựng Tổ nông dân đoàn kết, hợp tác, phát triển sản xuất (theo giấy phép số 02 của UBND tỉnh), tiến hành xây dựng tổ chức Hội ở 20 Lâm trường; chỉ đạo xoá ấp trắng hội viên.
Hội đề ra khẩu hiệu hành động “Vì nông dân giàu, nông thôn mạnh”, tổ chức thực hiện theo phương châm “Nông dân làm, nông dân bàn, nông dân kiểm tra”, tập trung thực hiện chương trình cải thiện đời sống nông dân, phát huy truyền thống đoàn kết, vượt khó, thoát nghèo, làm giàu.
Tuyên truyền vận động nông dân, phối kết hợp với các cơ quan chức năng, tập huấn và đưa kỹ thuật nông nghiệp vào sản xuất.
Tổ chức tốt các phong trào thi đua, khen thưởng, làm tốt công tác xét tặng huy chương “Vì giai cấp nông dân Việt Nam”, kịp thời biểu dương hộ nông dân vượt khó, thoát nghèo, biểu dương các điển hình tại chi, tổ hội và khen thưởng hàng năm.
Hai là, củng cố bộ máy tổ chức của Hội theo hướng gọn, hiệu quả, kiên quyết đưa những người không còn thiết tha, nhiệt tình công tác hội ra khỏi BCH Hội các cấp. Hàng năm, tổ chức sơ kết công tác Hội ở các cấp Hội, uốn nắn hoạt động, nâng cao trình độ tổ chức và hoạt động cho cán bộ Hội. Bảo đảm các báo cáo định kỳ, hội họp, tập huấn công tác Hội
Ba là, chỉ đạo đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, quán triệt 3 tiêu chuẩn vững mạnh của Hội, tập trung ở cơ sở cụ thể là :
(1). Tổ chức cơ sở hội phải xây dựng được chương trình công tác, bảo đảm được sinh hoạt định kỳ: Tổ 1 tháng/lần; Chi hội 2 tháng/lần; BCH xã 3 tháng/lần, ập hợp từ 40% nông dân vào Hội trở lên, thu hội phí, lập được quỹ hội
(2). Có phong trào hội viên giúp nhau sản xuất, cải thiện đời sống, xóa nghèo.
(3). Cơ sở mạnh thì cuối năm phong trào Hội đạt 2/3 các chỉ tiêu kinh tế - xã hội của địa phương.
Từ những chỉ đạo đúng đắn sát thực đó, năm 1993 là năm phong trào Hội phát triển mạnh mẽ. Cán bộ, hội viên nông dân đã góp phần đưa sản lượng lương thực trong tỉnh đạt 1,2 triệu tấn. Diện tích nuôi trồng thủy sản lên 100.000 ha. 68.100 ha rừng (có 40% diện tích rừng) được các lâm ngư trường cho 10.625 hộ nông dân nhận khoán. Tổ chức Hội chủ động xây dựng các dự án 120 (tạo việc làm), xóa đói giảm nghèo và tiếp nhận nguồn vốn chương trình hỗ trợ cho người hồi hương 3,030 tỷ đồng, tín chấp giải quyết cho hộ hội viên, nông dân nghèo vay mua cây con giống, vật tư nông nghiệp sản xuất (mức tín chấp từ 300 - 500 đến 1 triệu đồng/hộ).
Năm 1993, toàn tỉnh đã xây dựng mới 590 chi hội, nâng tổng số Chi hội lên 1.746, xây dựng 1.749 tổ nông dân đoàn kết, hợp tác, phát triển sản xuất, nâng tổng số lên 3.282 tổ, kết nạp 31.886 hội viên mới, nâng tổng số lên 121.614 hội viên. Công tác xây dựng tổ chức hội ở các xã ven biển, ngư dân làm nghề khai thác biển, nông dân nghề rừng được quan tâm, đến cuối năm 1994, các xã ven biển đều có chi hội và tổ hội làm nghề đánh bắt có trên 10.000 hội viên, tập trung ở Gành Hào, Nhà Mát (Bạc liêu), Sông Đốc, các cụm dân cư Khánh hội, Đá bạc, Đất Mũi, Cái Dôi Vàm. 11 Lâm ngư trường đều có Ban chấp hành Hội (tương đương với cấp xã) có từ 5 - 9 Ủy viên, có 1 cán bộ chuyên trách. Trong giai đoạn này công tác cán bộ được tăng cường. Cơ quan huyện có 5 - 7 cán bộ chuyên trách, xã có 1 - 2 cán bộ chuyên trách, cấp ủy bố trí 52 cấp ủy viên giữ chức Chủ tịch Hội ở cơ sở. Nhiều BCH Hội cấp xã có trụ sở, phòng làm việc. Hội Nông dân tỉnh tổ chức mở 12 lớp tập huấn, chuyên sâu về nghiệp vụ cho 695 cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn và tương đương...
Số hộ hội viên có đời sống tương đối khá giàu trong tổ chức hội đạt gần 30%; số hộ hội viên nghèo còn 22,4%. Tuy nhiên, vào thời điểm này tổ chức Hội còn rất hạn chế về kinh nghiệm trong triển khai và tổ chức vận động, hướng dẫn, giúp đỡ nông dân thực hiện chương trình xoá đói, giảm nghèo, đặc biệt là hộ nghèo cầm cố ruộng đất, và hộ trong vùng dân tộc; theo báo cáo còn 60% diện tích vườn tạp không có hiệu quả, việc rút kinh nghiệm, châm bồi nhân tố điển hình chưa kịp, chưa sâu.
Nông nghiệp (cây lúa) là trọng tâm trong chỉ đạo sản xuất của tỉnh. Diện tích gieo trồng lúa 348.100 ha, rừng và đất rừng 160.000 ha, diện tích chuyên nuôi tôm 60.000 ha. Năm 1990 – 1993 Vì trồng lúa năng suất, hiệu quả thấp, nông dân các xã Tạ An Khương (xã lớn chưa chia tách), Tân Thuận, Tân Tiến, Nguyễn Huân, một phần của xã Tân Duyệt (huyện Đầm Dơi) đã lén bửa đập để nuôi tôm.
Qua thực tiễn sản xuất của người dân, tỉnh đã đề nghị chính phủ và được chính phủ cho phép.
Tháng 4 năm 1994, Cà Mau chuyển một số diện tích trồng lúa phía Đông của huyện Đầm Dơi, Ngọc Hiển sang nuôi tôm. Hiệu quả nuôi tôm những năm đầu cao hơn cấy lúa nhiều lần, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân vùng tôm hơn hẳn vùng cấy lúa. Cũng chính từ con tôm đem lại thu nhập cao cho nông dân, vì vậy việc quy hoạch các vùng sản xuất gắn lợi ích của người dân đang cần có lời giải từ các cơ quan quản lý của địa phương.
Báo cáo giữa nhiệm kỳ của BCH Hội Nông dân tỉnh khóa V trình bày tại hội nghị BCH năm 1994 nêu rõ: Hội đã tập trung vận động nông dân thực hiện các nhiệm vụ thiết thực như: Cuộc vận động nông dân biết, nông dân bàn, nông dân làm, nông dân kiểm tra; tổ chức các cuộc hội thảo về truyền thống nông dân, để khơi dậy niềm tin, sức mạnh của nông dân; phong trào tương thân tương ái được hội phát huy có hiệu quả, gắn với phong trào nông dân thi đua sản xuất giỏi, xóa đói giảm nghèo, thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo, xây dựng tổ nông dân đoàn kết hợp tác phát triển sản xuất, xây dựng nông thôn mới, xây dựng gia đình nông dân văn hóa, tuyên truyền luật đất đai, luật thuế sử dụng đất nông nghiệp, xây dựng Hội vững mạnh, tổ chức phổ biến, học tập các điển hình sản xuất. Liên kết với Đài Phát thanh & Truyền hình, Báo Minh hải để tuyên truyền nông dân vượt khó thoát nghèo làm giàu, cấp sách, báo, tài liệu kỹ thuật cho cơ sở. Tuy vậy, BCH Hội cũng nhận thức thấy được việc tuyên truyền chưa sâu, chưa hấp dẫn, chưa kịp thời, nông dân tham gia tuy có tăng, nhưng chưa gắn bó mật thiết với Hội. Hiệu quả của các phong trào chưa thật cao.
Trong sản xuất lúa - màu, nông dân có nhiều mô hình thâm canh, tăng vụ đạt bình quân 5,4 tấn/ha ở Bạc Liêu, Vĩnh Thanh (Hồng Dân), Vĩnh Mỹ A (Vĩnh Lợi); phong trào đưa màu xuống ruộng (trồng đậu xanh) phát triển ở Khánh Bình Tây, Trần Hợi, Khánh hưng (Trần Văn Thời), Lương Thế Trân (Cái Nước), Lý Văn Lâm (Cà Mau), Hiệp Thành (Bạc Liêu); phong trào phát triển tiểu thủ công nghiệp ở Trí Phải (Thới Bình); phong trào nuôi cá đồng ở Thanh Tùng (Đầm Dơi), Khánh hải (Trần Văn Thời)… Lần đầu tiên Minh Hải (Cà Mau - Bạc Liêu) đạt 1,2 triệu tấn lúa/năm, khai thác gần 150.000 tấn tôm cá, xuất khẩu hơn 100 triệu USD.
Nuôi tôm quảng canh cải tiến, bán thâm canh phát triển ở Hàm Rồng (Ngọc Hiển), Tân Lộc (Thới Bình), Tân Thuận (Đầm Dơi) và tăng cường khả năng khai thác biển. Năm 1993, đạt 147.000 tấn, trong đó 46.000 tấn tôm nguyên liệu.
Nông dân trồng rừng và phát triển rừng đã xuất hiện những mô hình sản xuất tiêu biểu như: Lâm ngư trường Sông Trẹm (Thới Bình), Lâm Ngư trường 184, Tam Giang 3 (Ngọc Hiển); hội viên nông dân xây dựng thành công mô hình Rừng - tôm - màu, Rừng - tôm - cá - cua; trồng lúa - nuôi cá - trồng màu trên đất rừng có thu nhập hàng trăm triệu đồng.
Công tác xoá đói giảm nghèo đã đem lại hiệu quả: 10.625 hộ nông dân không có đất sản xuất, được nhà nước giao khoán 68.400 ha đất rừng. Thông qua các chương trình, chính sách hỗ trợ nông nghiệp, 5.894 hộ được vay 5,583 tỷ đồng, tạo việc làm mới cho 2.274 lao động. các chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp cho vay qua Tổ nông dân đoàn kết hợp tác phát triển sản xuất hơn 300 tỷ đồng. Phong trào giúp đỡ nông dân huy động được hàng tỷ đồng, tổ chức Hội cơ bản đã xoá hộ đói về lương thực, giảm hộ nghèo gay gắt, một bộ phận hộ vươn lên đủ ăn trở thành hộ khá – giàu. An ninh, chính trị, trật tự xã hội giữ vững, kinh tế từng bước ổn định và phát triển.
Thực hiện phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm đã tạo nguồn lực, động lực thúc đẩy nông dân tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, hội viên nông dân toàn tỉnh đã đóng góp 750 ngàn ngày công lao động, đào đắp 3 triệu m3 đất và góp trên 3 tỷ đồng xây dựng cầu, lộ nông thôn, tu bổ các điểm trường, trạm y tế. Công việc học tập của con em ở nông thôn được quan tâm chú ý hơn; các cấp Hội Nông dân trong tỉnh đã tích cực phối hợp với các ngành, các cơ quan chuyên môn vận động nông dân sử dụng nước sạch, vệ sinh phòng bệnh, bảo vệ sức khoẻ, chăm sóc giáo dục trẻ em; thực hiện sinh đẻ có kế hoạch “Mô hình gia đình nông dân 1 đến 2 con”, “Mô hình gia đình nông dân văn hóa”, phong trào xây dựng gia đình theo 6 chuẩn mực, được tuyên truyên, phát động; công tác chăm lo cho gia đình thương binh liệt sĩ, giúp đỡ người già, neo đơn, tàn tật, từ nhận thức đến thực hiện được nông dân quan tâm và hưởng ứng tích cực. Phong trào đền ơn đáp nghĩa xây dựng quỹ đền ơn, đáp nghĩa, xây dựng “Nhà tình nghĩa” Nông dân toàn tỉnh đã đóng góp trên 2,5 tỷ đồng . Nhiều cơ sở Hội đã tích cực vận động thực hiện xây dựng nếp sống mới, gia đình văn hoá mới, đấu tranh chống các tệ nạn xã hội ở nông thôn. Tuy nhiên kết cấu hạ tầng điện, đường, trường trạm ở nông thôn phát triển chậm; tình trạng phân hoá giàu nghèo có xu hướng gia tăng; 40% số hộ nông dân vẫn sử dụng nước mưa, nước ao đìa trong sinh hoạt; sản xuất canh tác truyền thống, khả năng tiếp cận kỷ thuật sản xuất mới rất hạn chế, tuy sản lượng có tăng do cơ cấu lại mùa vụ, mở rộng diện tích gieo trồng lúa vụ 2 nhưng năng suất thấp, chi phí cao, thu nhập thấp. Phong trào văn hóa văn nghệ có phát triển, nhưng cơ sở vật chất phục vụ cho đời sống văn hoá tinh thần ở nông thôn chưa khả năng đáp ứng được nhu cầu của người dân... nổi bật là việc xây dựng gia đình văn hóa, khóm ấp văn hóa.
Ban Chấp hành Tỉnh Hội (khóa IV) có nhiều thay đổi. Tỉnh bổ sung 17 Ủy viên BCH; cấp huyện bổ sung 165 ủy viên; xã, phường, thị trấn 1.773 Ủy viên. Có 6/11 huyện, thị xã 59/117 xã, phường có cấp Ủy viên cấp ủy Đảng làm Chủ tịch; Cơ quan cấp huyện có 4 - 6 cán bộ chuyên trách. Cơ sở 2 cán bộ chuyên trách, kinh phí do ngân sách cấp chủ yếu chi cho hoạt động hành chính, không hỗ trợ cho phong trào.
Trong cơ chế mới, thực hiện đổi mới theo tinh thần nội dung Nghị quyết 8B, BCH Trung ương khoá VI, Chỉ thị 499 của Trung ương Hội Nông dân Việt Nam; phong trào Hội có bước chuyển hướng, hướng về lợi ích của nông dân, công tác phát triển hội viên mới có tiến bộ. Đến 1994, đã có 121.000 hội viên, 1.176 chi hội, 3.330 cán bộ chi hội trưởng, chi hội phó, 5.773 tổ (có tổ nông dân đoàn kết hợp tác phát triển sản xuất), có 10.940 tổ trưởng, tổ phó. Hội cấp tỉnh và huyện đã mở 32 lớp (ngắn ngày) bồi dưỡng chính trị, nghiệp vụ 2.176 cán bộ Hội, chủ động phối hợp tập huấn chương trình phòng chống tội phạm, phòng chống mãi dâm, ma túy, bồi dưỡng kiến thức khuyến nông, ngư, lâm cho đội ngũ cán bộ Hội
Công tác thi đua được Hội Nông dân các cấp trong tỉnh quan tâm, đạc biệt là công tác biểu dương khen thưởng. Nhiệm kỳ 1987 – 1994, Trung ương Hội đã tặng 95 Huy chương, 13 Bằng khen cho cá nhân và tập thể. UBND tỉnh đã tặng 450 Bằng khen, 2 Cờ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, 1 Cờ tặng 62 năm phấn đấu và trưởng thành của Hội. Tỉnh Hội tặng 2.000 Giấy khen, cấp 700 Bằng Nông dân sản xuất giỏi cấp tỉnh.
Đại hội V Hội Nông dân tỉnh đã đề ra phương hướng, chỉ tiêu và những biện pháp xây dựng Hội nhằm tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Hội ở các cấp, tập hợp đông đảo nông dân vào Hội, hướng tới xây dựng đời sống nông dân phát triển toàn diện, giữ vững sự ổn định về chính trị, trật tự an toàn xã hội, xây dựng nông thôn mới. Với khẩu hiệu hành động“Đoàn kết, phát huy nội lực, nông dân giàu, nông thôn mạnh”.
Bước vào thực hiện Nghị quyết Đại hội V Hội Nông dân tỉnh Minh Hải có nhiều thuận lợi và cũng nhiều khó khăn, thách thức đó là: Công cuộc đổi mới đất nước vì chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng có những bước phát triển quan trọng. Từ ngày 31/3 - 02/4/1994, BCH Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị Đại biểu giữa nhiệm kỳ (Khoá VII). Hội nghị đã đánh giá và chỉ ra những nguyên nhân cơ bản của sự sụp đổ của CNXH hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu; đánh giá thành quả đổi mới vì CNXH ở nước ta, đặc biệt là khẳng định, nước ta đã bước vào một giai đoạn phát triển mới, chuẩn bị cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Chỉ ra 4 nguy cơ đối với sự nghiệp đổi mới của Đảng và nhân dân ta, đó là: nguy cơ chệch hướng XHCN; nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế; nguy cơ của nạn tham nhũng và quan liêu; nguy cơ của âm mưu diễn biến hoà bình của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta.
Trong sản xuất nông nghiệp đi liền với việc xác nhận hộ là đơn vị kinh tế tự chủ và chu trương giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho hộ nông dân, đã tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy kinh tế - xã hội nông thôn phát triển mạnh. BCH TW Hội Nông dân Việt Nam (khóa II), triển khai và phát động 3 phong trào thi đua lớn: Phong trào hộ gia đình nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau xóa đói giảm nghèo và làm giàu chính đáng; phong trào nông dân thi đua xây dựng gia đình văn hóa; phong trào nông dân tham gia đảm bảo quốc phòng an ninh.
Tại Minh Hải, thực hiện chủ trương của Đảng và của BCH TW Hội Nông dân Việt Nam (khóa II), phong trào nông dân, công tác xây dựng tổ chức Hội có sự chuyển động mạnh mẽ trong đổi mới về nội dung và hình thức.
Sau Đại hội V của Hội, BCH tỉnh Hội tập trung công tác tuyên truyền học tập, phổ biến Nghị quyết Đại hội V, Nghị quyết Hội nghị Đại biểu giữa nhiệm kỳ khoá VII của Đảng, học tập đấu tranh chống âm mưu diễn biến hoà bình của các thế lực thù địch; tuyên truyền phổ biến pháp luật: Luật bầu cử Hội đồng nhân dân, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Đã tổ chức 13.345 cuộc 309.468 lượt cán bộ, hội viên, nông dân.
Trong sản xuất, tập trung tuyên truyền vận động, hướng dẫn nông dân sản xuất theo đúng thời vụ, tăng diện tích lúa hè thu, để tăng năng suất, tăng sản lượng, phát động phong trào VAC, cải tạo vườn tạp để trồng cây ăn trái, nuôi cá; mở rộng nghề chăn nuôi trong hộ gia đình. Các phong trào lớn được Hội Nông dân các cấp phát động đó là: phong trào thi đua sản xuất giỏi, xoá đói, giảm nghèo, làm giàu với khẩu hiệu (nông dân giàu, nông thôn mạnh); phong trào khai hoang phục hoá, nhận đất trồng rừng, làm thuỷ lợi, thuỷ nông nội đồng; ứng dụng kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất nông nghiệp, thực hiện đa canh trên 1 diện tích 2 vụ lúa hoặc 1 lúa - 1 màu; 1 lúa - 1 cá; phong trào con tôm ôm gốc lúa; trồng rừng nuôi tôm và nuôi cá. Phấn đấu gieo trồng 300.000 ha; nuôi tôm, cá 100.000 ha… Phong trào xây dựng nông thôn mới, xoá cầu khỉ, đưa điện về nông thôn, bảo vệ môi trường, xoá cầu tiêu trên sông rạch, ao hồ, bảo vệ môi trường. Phong trào thực hiện sinh đẻ có kế hoạch, phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ em…
Năm 1994, Hội Nông dân các cấp đã phối hợp với các ngành, huy động 4,5 triệu lượt ngày công, đào đắp 9 triệu m3 đất, làm mới 850 km lộ nông thôn, xây dựng 110 cầu bê tông, xoá 1.350 cầu khỉ thay bằng cầu ván. 100% xã, phường đã có điện thoại bàn, 11/11 huyện, thị đã sử dụng điện lưới; 53/120 xã, phường có điện lưới, đã có 11.900 hộ sử dụng điện sinh hoạt, khoan mới 3.000 cây nước ngầm, đưa tổng số cây nước toàn tỉnh đạt 27.000 cây, bình quân 10 hộ/cây nước.
Hội Nông dân toàn tỉnh đã góp phần xây dựng 150 nhà tình nghĩa, tổng giá trị trên 1 tỷ đồng; Góp phần tạo phong trào phụng dưỡng bà mẹ Việt Nam anh hùng (Bà mẹ Việt Nam anh hùng trong tỉnh được phong lần 1 là 604 bà mẹ).
Công tác xây dựng Hội tập trung phát triển hội viên trong độ tuổi lao động đạt những thành tích đáng kể đến cuối năm 1994 toàn tỉnh có 147.630 hội viên đạt 20% so với lao động ở nông thôn (735.357 người). Xây dựng 2.236 Chi hội ngành nghề và 6.349 tổ nông dân đoàn kết hợp tác phát triển sản xuất. Củng cố nâng chất 133 BCH Hội xã, phường, thị trấn, nông, lâm ngư trường với 1.803 Ủy viên Ban Chấp hành, củng cố bổ sung Ban thường vụ cấp cơ sở 386 Ủy viên (4 nữ). Đến tháng 10/1994 có 45 cơ sở cấp ủy phân công cấp ủy viên làm Chủ tịch Hội Nông dân, 32 đ/c trưởng Ban dân vận xã kiêm chủ tịch Hội, 11 đ/c phó giám đốc nông - lâm trường kiêm chủ tịch Hội, 384 đảng viên là chủ tịch, phó chủ tịch Hội; chỉ còn 20 xã chủ tịch Hội là quần chúng.
11 Ban Chấp hành huyện, thị có 183 Ủy viên (có 126 đảng viên, có 5 nữ); có 9 đ/c là ủy viên BCH Đảng bộ huyện, thị làm chủ tịch Hội, còn lại 2 BCH huyện chủ tịch Hội là đảng viên, cấp huyện có 17 đ/c phó chủ tịch BCH; Cơ quan Hội có 49 cán bộ chuyên trách.
BCH Hội Nông dân tỉnh 31 ủy viên. Ban Thường vụ 9 (Trong đó: Chủ tịch là Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, 3 Phó Chủ tịch; 3 đồng chí Ủy viên BCH Tỉnh Hội là Chủ tịch Hội cấp xã; 5 ủy viên BCH cơ cấu các ngành trong khối vận; 12 cán bộ chuyên trách cơ quan tỉnh Hội. Tỉnh Hội có 4 ban, 3 Phó chủ tịch kiêm trưởng 3 ban và 1 Ủy viên Thường vụ làm chánh văn phòng).
Tỉnh Hội kết hợp với các huyện, thị tập huấn 3.785 cán bộ, trong đó có 20 được đưa tập huấn Trung ương.
Công tác thi đua được Hội tập trung chú ý: UBND tỉnh tặng 62 Bằng khen, thưởng 3.050.000 đồng cho nông dân sản xuất giỏi.
Tỉnh Hội khen thưởng cho hội viên hoàn thành thuế, nghĩa vụ 3 năm 1992 - 1994 với 118 Bằng khen. Khen thưởng cho cán bộ công tác Hội 12 Bằng khen.
Xã Lợi An, huyện Trần Văn Thời được nhận 10 Bằng khen cho cán bộ công tác Hội sản xuất giỏi.
Nhưng số cán bộ Hội tuổi đời cao, phần lớn chưa qua đào tạo cơ bản. Quỹ hội còn nhỏ bé (mới xây dựng ở 50 cơ sở với số tiền được 136,2 triệu đồng, 454 chi hội xây dựng được quỹ 66 triệu đồng). Chi hội mạnh còn rất ít, việc tuyên truyền để hội viên hiểu về Hội chưa nhiều, cho nên nhiều hội viên vào Hội, nhưng chưa giác ngộ về Hội.
Tuy vậy, những năm 1995 – 1996, phong trào nông dân trong tỉnh phát triển khá mạnh. Nguyên nhân cơ bản là hoạt động của Hội đã đổi mới theo chiều hướng tích cực, hướng tới lợi ích chính đáng của nông dân. Người nông dân nhận thức được những lợi ích khi tham gia Hội. Điều đó, chứng tỏ đường lối của Đảng là đúng đắn, phù hợp với thực tiễn và được Hội cụ thể hoá vào hoàn cảnh cụ thể của nông dân Minh Hải - Cà Mau.
Nổi bật là phong trào của Hội đã đánh trúng ý nguyện của nông dân. Với khẩu hiệu hành động Vì nông dân giàu, nông thôn mạnh đã khơi dậy tinh thần của dân: đó là xoá đói giảm nghèo, đó là xây dựng nông thôn mới xoá cầu khỉ, làm cầu bê tông và cầu ván đôi, xoá cầu tiêu trên sông, trên ao hồ.
Kỷ niệm 65 năm (14/10/1930 – 14/10/1995), Hội Nông dân tỉnh tổ chức sơ kết 2 năm thực hiện chương trình nâng cao mức sống nông dân nghèo và tổng kết 11 chi hội điểm. Kết quả 2 năm 11 điểm đã xoá 391/533 hộ nghèo gay gắt, nâng số hộ đủ ăn từ 734 hộ lên 1.133 hộ. Hộ khá từ 279 lên 557 hộ. Các chi hội điển hình như chi hội ấp Cơi 5 xã khánh bình tây (huyện Trần Văn Thời), chi hội 3 xóm Lớn, xã Lý Văn Lâm (thị xã Cà Mau). Tại cuộc họp mặt kỷ niệm ngày 14/10, BTV Hội Nông dân tỉnh, Sở Nông nghiệp, Sở Thủy sản, Ngân hàng Nông nghiệp, Hội Nhà Báo thống nhất phát động giải báo chí viết về Người nông dân và nông thôn; quy định 5 năm tổng kết 2 lần, kinh phí giải do các đơn vị đồng tài trợ. Tại cuộc họp mặt Hội Nông dân tỉnh cấp 16 Bằng khen cho các phóng viên Báo Minh Hải, Đài Phát thanh & Truyền hình tỉnh có thành tích viết và tuyên truyền về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
Với khẩu hiệu hành động "Vì nông dân giàu, nông thôn mạnh", Hội đã tích cực phối hợp với các đơn vị trong và ngoài tỉnh, tổ chức các hội nghị, tập huấn chuyển giao kỹ thuật, tập huấn kỹ thuật sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cho 14.854 hội viên nông dân và huấn luyện cách sản xuất theo chương trình IPM cho 3.325 hội viên nông dân. Ở nhiều nơi đã xuất hiện mô hình tăng vụ, trồng cây nguyên liệu cho công nghiệp, dược liệu, phát triển ngành nghề, trong 2 năm (1994 – 1995) chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp cấp huyện đã cho 97.163 hộ vay 245 tỷ đồng; 6.200 hộ khôi phục nghề dệt chiếu, nghề đan lát; 7.700 hộ mở thêm nghề mua bán nhỏ và làm dịch vụ. Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước các nông lâm ngư trường đã tiếp nhận 10.657 hộ nghèo không đất vào nhận khoán đất rừng 68.100 ha.
Phong trào giúp đỡ xoá đói giảm nghèo đã xuất hiện nhiều tấm gương tiêu biểu. Hội Nông dân xã Lợi An (Trần Văn Thời) giúp cho hàng trăm nông dân nghèo mượn lúa ăn trong thời điểm giáp hạt, như chú Chín Xù, Út Quang và Hai Tươi. Riêng Chín Xù đã cho mượn 500 giạ lúa. Chi hội Đường Quốc (Lợi An) cho 41 hộ nghèo mượn 5 triệu đồng và 700 giạ lúa. Hội Nông dân xã Khánh Hải (Trần Văn Thời) đã vận động các vựa thu mua tôm cho hộ dân nghèo mượn hơn 1 tỷ đồng mua ngư lưới cụ để đánh bắt thủy sản và trả chậm bằng sản phẩm (không tính lãi). Hội nông dân xã Quách Phẩm, huyện Đầm Dơi đã tổ chức hùn tiền giúp những hộ khó khăn trả nợ vay ngân hàng 250 triệu đồng. Xã Hiệp Tùng (Ngọc Hiển cũ), Hội Nông dân đã vận động giúp các hộ nghèo 2.178.000 đồng. Riêng ông Huỳnh Ngọc Thanh giúp 600.000 đồng. Ông Triệu Công Khanh (Cái Nước), cho 20 hộ nông dân nghèo mượn 60 giạ lúa.
Phong trào xoá đói giảm nghèo đã được 238 chi hội triển khai, tổ chức thực hiện, nhiều chi hội đã giảm được từ 1/3 đến 3/4 số hộ nghèo gay gắt. Qua phong trào 50 xã, phường, thị trấn và 131 chi hội và cá nhân được UBND tỉnh đã tặng Bằng khen; cấp huyện, thị tặng 263 Giấy khen cho cá nhân và tập thể cơ sở, Hội Nông dân cấp tỉnh tặng 115 Bằng khen, 259 hộ được cấp Bằng Nông dân sản xuất giỏi trong thực hiện chương trình nâng cao mức sống nông dân nghèo.
Phong trào xoá đói giảm nghèo được sự ủng hộ tích cực của toàn xã hội, đã trở thành chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Nhiều điểm chỉ đạo của hội đã được tổng kết trở thành phong trào chung như: Điểm vay vốn 120 tạo việc làm cho hộ nghèo chi hội ấp Trùm thuật B, xã Khánh hải (huyện Trần Văn Thời) với nguồn vốn 41 triệu (vay từ nguốn quỹ quốc gia giải quyết việc làm) cho 38 hộ hội viên vay thời gian 12 tháng nuôi cá đồng, 38/38 hộ xử dụng vốn đúng mục đích, ổn định việc làm, có thu nhập, tạo điều kiện khôi phục nghề nuôi cá đồng truyền thống của địa phương.
Trong điều kiện kinh tế hộ là đơn vị sản xuất tự chủ, vận động nông dân sản xuất theo hướng phát triển kinh tế tập thể, liên kết hợp tác; cái khó là nông dân đói vốn, rất khó tiếp cận các nguồn vốn tín dụng. Để giúp đỡ nông dân có vốn sản xuất, ngày 02 tháng 3 năm 1996 Trung ương Hội Nông dân Việt Nam ban hành Quyết định số 80/QĐ.HND về việc thành lập Quỹ hỗ trợ nông dân.
Thực hiện quyết định của Trung ương Hội, Hội Nông dân tỉnh Minh Hải (Cà Mau) ban hành Quyết định số 04/QĐ-HND, ngày 17 tháng 5 năm 1996 thành lập Ban điều hành quỹ hỗ trợ nông dân trong tỉnh.
Chủ trương của tỉnh là: Việc xây dựng quỹ hỗ trợ nông dân được quy định rõ: Vốn thành lập Quỹ do việc vận động ủng hộ từ những nhà từ thiện, từ nhân dân và do nhà nước cấp, sử dụng quỹ không nhằm mục đích kinh doanh, mà mang tính hỗ trợ vốn cho nông dân, có thu phí; thời hạn cho hộ nông dân vay từ 01 - 03 năm, thu phí không quá 5%/năm. Cấp Hội nào tổ chức huy động được và vay vốn của Hội viên thì cấp Hội đó có trách nhiệm hoàn trả.
Ban Thường vụ Hội Nông dân tỉnh Minh Hải chọn ấp Nghĩa Trang, xã Phong Lạc (huyện Trần Văn Thời). Xây dựng Quỹ hỗ trợ nông dân (nông dân góp); do ông Vũ Anh Kiệt, Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh trực tiếp làm trưởng đoàn chỉ đạo, trong quá trình thực hiện Hội kết hợp với Ngân hàng phục vụ người nghèo đối ứng thêm vốn để hỗ trợ hộ nghèo tham gia quỹ, sau 3 tháng vận động đã huy động trên 80 triệu đồng (trong đó cho luôn 8,17 triệu đồng), Hội đã xét cho hộ nghèo vay từ 2 – 3 triệu đồng/hộ. Kết quả: Dự án được đầu tư 147 triệu đồng cho 49 hộ vay (trong đó: có 6 hộ không đất, 6 hộ thiếu đất sản xuất và 2 hộ cầm cố đất), sau 12 tháng, 27 hộ ổn định sản xuất có đủ khả năng vượt được nghèo. Trong thời điểm này, Hội cũng tập trung vận động Quỹ hỗ trợ nông dân tại xã Tân Phong, huyện giá rai để rút kinh nghiệm trong chỉ đạo, lãnh đạo công tác lo vốn cho nông dân xóa nghèo.
Rút kinh nghiệm 2 điểm chỉ đạo tỉnh. Ngày 25 tháng 5 năm 1996, BCH Hội Nông dân Việt Nam tỉnh đã ban hành Hướng dẫn số 03/HD-HND về việc thực hiện quyết định về tổ chức và hoạt động của Quỹ hỗ trợ nông dân. Ngày 09 tháng 8 năm 1996, Ban vận động quỹ xây dựng kế hoạch phấn đấu đạt chỉ tiêu 3 đến 4 tỷ đồng. Cấp tỉnh trước mắt đạt 200 triệu đồng, cấp huyện, mỗi huyện đạt 50 triệu đồng. Mỗi ấp vận động quỹ phấn đấu đạt 15 triệu đồng. 11/11 huyện thành lập Ban vận động quỹ hỗ trợ nông dân. Với 3 hình thức vận động: (1) ủng hộ cho luôn, (2) cho mượn không tính lãi, (3) cho quỹ vay với lãi suất thấp (cao nhất là 0,5%/năm). Tỉnh Hội in các mệnh giá huy động cấp cho huyện, thị xã. Cấp huyện quản lý quỹ của từng xã, nơi nào vận động được ưu tiên cho lập dự án, đối tượng là hộ nông dân nghèo thiếu vốn sản xuất, chu kỳ vay 12 tháng, lãi thu theo quý. Đến cuối năm 1996, toàn tỉnh vận động được 586 triệu đồng, trong đó cấp tỉnh gần 150 triệu, còn lại tập trung ở 3 huyện (Trần Văn Thời, Giá Rai, Vĩnh Lợi). Minh Hải là một trong những tỉnh đầu tiên xây dựng được quỹ hỗ trợ nông dân.
Ngày 13 tháng 5 năm 1996, Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu ký Công văn số 320/CV-TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng yêu cầu các tổ chức Đảng tạo điều kiện cho Hội Nông dân các cấp xây dựng quỹ và hoạt động đúng theo Điều lệ của Hội.
Phong trào nông dân trong tỉnh nói riêng và cả nước nói chung đã được quan tâm và không ngừng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, hướng tới hiệu quả và nâng cao đời sống nông dân.
Trước những thuận lợi chung, phong trào nông dân đã đạt được những thành tích đáng phấn khởi. Năm 1996 Tỉnh hội, đã tổ chức 41 cuộc học tập chủ trương của hội, trong đó các cấp hội cơ sở tổ chức hơn 8.000 cuộc tuyên truyền, có trên 195.800 hội viên nông dân dự, các cuộc họp đều kết hợp lồng ghép các chương trình khuyến nông, khuyến ngư, chương trình Dân số - Kế hoạch hoá gia đình… Năm 1996, đã có 37.574 nông dân xin vào hội, đưa tổng số hội viên toàn tỉnh lên 157.585, đạt 78,29% số hộ nông dân làm nông nghiệp (1 hộ có 1 người tham gia Hội) trong tỉnh. Đã củng cố nâng chất 993 chi, thành lập mới 110 chi hội ngành nghề. Tính đến cuối 1996, toàn tỉnh có 2.295 chi hội ngành nghề. Các huyện thị thành lập 6.817 tổ đoàn kết hợp tác phát triển sản xuất theo mô hình mới. Năm 1996, tỉnh đã tiến hành giải thể 5 BCH Hội trong Lâm ngư trường bàn giao về cho xã. Tổ chức mới 01 BCH cơ sở Hội. Tính đến cuối 1996, toàn tỉnh có 129 cơ sở Hội có 1.971 Ủy viên BCH (có 77 nữ), 129 Chủ tịch (có 58 chủ tịch là cấp Ủy viên, 51 đảng viên, 20 quần chúng). Củng cố nâng chất 120 Ủy viên BCH cơ sở (có 12 Phó Chủ tịch, 56 Ủy viên thường vụ, 52 Ủy viên Ban Chấp hành), bầu bổ sung 40 Ủy viên BCH (có 17 Chủ tịch).
Bộ máy lãnh đạo Hội được kiện toàn, củng cố và phát triển (Cấp huyện, thị có 9/11 đơn vị có cấp Ủy viên cùng cấp làm Chủ tịch). BCH Hội Nông dân tỉnh chuyển công tác 01 Ủy viên Ban thường vụ, bầu bổ sung 1 Ủy viên Ban thường vụ và 02 Ủy viên Ban Chấp hành. Tổ chức Đại hội đại biểu theo nhiệm kỳ 10/11 huyện, thị xã, 70/129 cơ sở Hội.
Năm 1996, Tỉnh Hội đã mở 10 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công tác Hội cho 685 cán bộ là Ủy viên BCH Hội Nông dân cấp huyện, thị xã. Đã mở thí điểm ở huyện Trần Văn Thời 2 lớp, Đầm Dơi 4 lớp bồi dưỡng công tác Hội tại cơ sở cho gần 140 cán bộ.
Trong sản xuất, được sự giúp đỡ của các khoa thuộc ngành sản xuất nông nghiệp của Trường Đại học Cần Thơ, kết hợp với các Trung tâm khuyến nông, khuyến ngư. Hội Nông dân tỉnh đã tổ chức 01 Câu lạc bộ khuyến nông tự nguyện với 57 thành viên khuyến khích thực hiện các phong trào như sản xuất tăng vụ, đa canh, đưa màu xuống ruộng, trồng nấm rơm, cải tạo vườn tạp…
Phong trào trồng cây công nghiệp và phát triển dịch vụ nông thôn ở Thới Bình, Thị xã Cà Mau với phát triển các nghề thủ công như đan lát, dệt chiếu được quan tâm chỉ đạo.
Về ngư nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản đạt 173.650 tấn, trong đó tôm 46.650 tấn. Khai thác biển đạt 120.000 tấn, trong đó có 19.500 tấn tôm.
Phong trào xây dựng giao thông nông thôn được Đảng bộ các cấp, Chính quyền và Mặt trận và các Đoàn thể quan tâm. Hội Nông dân các cấp đã phối hợp động viên nông dân gia cố sửa lại 57.226 km đường lộ xóm ấp, trong đó có 30 km lộ bê tông, đóng góp 8.277 ngày công, đắp đắp 51 km đường đất đen, phát dọn 89.230 km lộ, hầm 95.070m3 đất đỏ rải 67 km lộ ấp xóm; bắc 892 cầu ván, làm mới 38 cây cầu bê tông. Hội viên nông dân đã góp 283.343.000 đồng. Trên lĩnh vực Văn hóa – Xã hội, vận động được 81.200 hội viên nông dân sử dụng các biện pháp kế hoạch hoá gia đình, 879 hộ đăng ký xây dựng gia đình gương mẫu; Phong trào xóa cầu tiêu, chuồng heo trên sông rạch, ao hồ đã tháo gỡ 26.073 cầu tiêu, xây dựng 26.763 cầu tiêu mới theo quy định. Tại thời điểm này, toàn tỉnh đã có 66/120 xã, phường đạt chuẩn phổ cập tiểu học, 3/11 huyện, thị xã đạt chuẩn xoá mù chữ…
Nhìn chung, nông nghiệp tỉnh Minh Hải (Cà Mau) đến cuối 1996 chủ yếu vẫn tập trung nhiều cho cây lúa. Nuôi trồng thủy hải sản tuy có sự phát triển nhưng còn chậm và bất cập. Đời sống vật chất tinh thần, văn hoá giáo dục, giao thông, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở nông thôn còn nhiều khó khăn. Kinh tế nông dân tuy có sự chuyển biến nhưng chưa có sự đột phá vươn lên.
II. PHONG TRÀO NÔNG DÂN CÀ MAU TRONG TIẾN TRÌNH ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ (1997 – 2000)
1. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH
Ngày 10 tháng 5 năm 1996, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ X đã khai mạc tại Nhà văn hoá trung tâm thị xã Cà Mau. Đồng chí Đặng Thành Học (Ba Thám), được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy.
Công cuộc đổi mới của Đảng và của nhân dân ta tiếp tục giành được những thắng lợi to lớn, đất nước từng bước phát triển, Quốc phòng - An ninh được giữ vững, đời sống nhân dân được cải thiện. Thắng lợi đó tạo thêm lòng tin của nhân dân ta vào Đảng vào chế độ. Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VIII đã tổng kết 10 năm đổi mới; đề ra mục tiêu, phương hướng giải pháp thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020. Đại hội khẳng định: Nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, nhưng còn một số mặt chưa vững chắc. Đại hội tiếp tục khẳng định những nguy cơ đe dọa công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta; đồng thời đề ra những nhiệm vụ giải pháp cho công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước.
Ngày 06 tháng 11 năm 1996, kỳ họp thứ X Quốc Hội (Khoá VIII) ra Nghị quyết về việc phân địa giới hành chính và thành lập một số tỉnh mới. Tỉnh Minh Hải được chia thành 2 tỉnh: Tỉnh Cà Mau và Tỉnh Bạc Liêu. Đồng chí Đặng Thành Học, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng được Bộ Chính trị chỉ định làm Bí thư Tỉnh Ủy Lâm thời tỉnh Cà Mau.
Những thành tựu của công cuộc đổi mới vì chủ nghĩa xã hội của toàn Đảng toàn dân ta, có sự đóng góp của nông dân và phong trào nông dân rất lớn. Trên cơ sở đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và sự cụ thể hoá của Đảng bộ tỉnh; sự vận dụng đường lối của Đảng, sự chủ động sáng tạo của Ban Chấp hành Hội Nông dân các cấp trong tỉnh đã đưa phong trào nông dân tỉnh nhà có sự chuyển biến hết sức tích cực.
Công tác xây tổ chức Hội Nông dân, sau khi khảo sát lĩnh vực đánh bắt thủy sản của các xã ven biển, việc quản lý hội viên và sinh hoạt của các chi hội, tổ hội gặp rất nhiều khó khăn, do hội viên luôn vắng (vì phải bám biển dài ngày), hội viên thường biến động về số lượng, cán bộ hội rất khó tổ chức sinh hoạt. Cũng chính từ nguyên nhân trên và là nghề đặc thù của ngư dân, sau khi xin ý kiến Tỉnh ủy. Tháng 9/1996 Ban thường vụ Hội Nông dân tỉnh đã tiến hành bàn giao trên 10.000 hội viên làm nghề khai thác biển qua tổ chức Liên đoàn lao động tỉnh.
2. HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI NÔNG DÂN TỈNH CÀ MAU TỪ 1997 ĐẾN NĂM 2000
Năm 1997, là năm thứ hai của thời kỳ chuyển tiếp nền kinh tế sang giai đoạn phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đưa đất nước tiến vào thế kỷ XXI, chuẩn bị các bước để hội nhập, tăng cường quan hệ kinh tế với các quốc gia trong khu vực và cộng đồng quốc tế.
Ngày 01 tháng 01 năm 1997, tỉnh Cà Mau chính thức được tái lập với 7 đơn vị hành chính cấp huyện gồm: Huyện Đầm Dơi, Huyện Ngọc Hiển, Huyện Thới Bình, Huyện U Minh, Huyện Trần Văn Thời, Huyện Cái Nước và thị xã Cà Mau, có 71 xã, phường, thị trấn; 8 Lâm ngư trường.
Ban Chấp hành Lâm thời Hội Nông dân tỉnh Cà Mau do Ông Vũ Anh Kiệt làm Chủ tịch; các Phó Chủ tịch: Ông Phan Thanh Hùng, Bà Ngô Thị Kim Loan. Ban Chấp hành Hội Nông dân cấp tỉnh có sự biến động ...
Ban Chấp hành Hội Nông dân cấp huyện và cấp xã tương đối ổn định khi chia tỉnh.
Sau khi chia tách tỉnh, trên lĩnh vực nông nghiệp, Nhà nước vừa cho thi công đê biển Tây, chiều dài 37 km chạy từ Rạch Chèo (xã Tân Hưng Tây) đến thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời với số vốn đầu tư hơn 8,6 tỷ đồng. Công trình này hoàn thành phục vụ việc ngăn mặn, đảm bảo cho gần 57.000 ha đất sản xuất trong khu vực sẽ mở ra một triển vọng mới cho nền nông nghiệp của tỉnh Cà Mau.
Nhiều địa phương trong tỉnh có những chuyển biến, như huyện Cái Nước nỗ lực phát triển hệ thống thủy lợi, thủy nông nội đồng. Thực hiện phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” riêng huyện Cái nước đã thực hiện được 64 công trình thủy lợi, thủy nông nội đồng, tổng chiều dài 177.670 m, với tổng kinh phí đầu tư 2,7 tỷ đồng. Nhiều công trình cống xổ nước, đê ngăn mặn, tháo úng, xổ phèn trọng điểm phát huy ngay hiệu quả một cách tích cực cho hàng ngàn ha lúa hè thu. Và nông dân tích cực áp dụng tiến bộ khoa học – kỹ thuật vào đồng ruộng, nhiều vùng “quy hoạch sản xuất đại trà lúa hè thu và lúa 2 vụ”, cả 2 vụ đều cho năng suất và sản lượng khích lệ.
Nông dân xã Khánh Bình có sáng kiến lắp vụ bằng phương pháp xạ lại vụ Đông Xuân, không những trên chân ruộng lúa hè thu, mà còn cả trên chân ruộng lúa cao sản sạ sớm; diện tích lúa hè thu năm 1997 của xã là 1.540 ha, nông dân đã sạ lại vụ Đông Xuân 1.300 ha (chiếm 84 %). Tuy gặp thiên tai, một số diện tích sạ sớm bị hư hỏng nặng, nhưng bà con đã kịp thời khắc phục bằng cách bón phân, tỉa dặm, sạ lại, những thửa ruộng lúa đông xuân trên đất Khánh Bình đều tốt, chuyển dần cơ cấu sản xuất theo hướng tăng vụ của địa phương đã được người dân đón nhận và tích cực sản xuất đã đem lại hiệu quả thiết thực. Tại nhiều vùng nông thôn của các địa phương, nông dân tích cực chuyển đổi cơ cấu giống, ứng dụng kỹ thuật; tiêu biểu là huyện Cái Nước đã tổ chức được 26 điểm sản xuất thí điểm ứng dụng phân bón, thuốc trừ sâu trong sản xuất, giúp cho bà con nông dân kiến thức thâm canh vụ hè thu và vụ đông xuân, xã Lương Thế Trân là một đơn vị điển hình, vụ mùa năm 1997 nông dân đã sạ 2.100 ha lúa đông xuân đã tăng sản lượng, nâng cao năng suất, giảm được chi phí sản xuất; sự chuyển biến tích cực này đã mở ra một triển vọng mới cho vụ lúa đông xuân phát triển trong tương lai.. nhiều vùng giữ được nước ngọt trồng hoa màu trên chân ruộng được bà con nông dân quan tâm như trồng dưa hấu, trồng bắp, trồng đậu xanh, cải tạo bờ liếp trồng bí đao, bắp cải, các loại rau màu ...góp phần nâng cao thu nhập cho người dân, tác động tích cực đến phong trào cải tạo vườn tạp của nhiều địa phương.....Trên lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, nếu trước đây sản xuất nông nghiệp ở Ở xã Tân Hưng (huyện Cái Nước) có 750 ha đất nhiễm phèn mặn, sản xuất nông nghiệp bấp bênh, kém hiệu quả, địa phương đã mạnh dạn chuyển sang sản xuất 1 vụ lúa 1 vụ tôm, sau 1 vụ sản xuất vùng đất này mang lại hiệu quả kinh tế khá cao; ở các xã Đông Thới, Tân Hưng Tây (Cái Nước), Khánh Hải (huyện Trần Văn Thời) ... mô hình nuôi cá đồng, nuôi tôm sú nước ngọt lợ, nuôi cua đã được nông dân quan tâm và đang phát triển. Nhiều cụm dân cư ở trung tâm các xã, hình thành được chợ nông thôn, đáp ứng nhu cầu mua – bán hàng hóa nông sản của người dân trong vùng.
Bước vào đầu mùa khô năm 1997, Hội Nông dân tỉnh kết hợp với Trung tâm khuyến nông, khuyến ngư, bảo vệ thực vật cùng các cán bộ kỹ thuật tổ chức tập huấn chuyển giao kỷ thuật, trong 3 tháng mở 442 lớp cho 12.500 hội viên, nông dân (tập trung chuyển giao kỹ thuật trồng lúa, cách canh tác giống mới, chăn nuôi heo, gà vịt, kỹ thuật nuôi thủy sản nước ngọt, nước lợ). Phương pháp tập huấn đã có bước đổi mới đáng kể, về nội dung và hình thức theo hướng sát thực tế, dễ hiểu, dễ áp dụng. Tổ chức các buổi hội thảo đầu bờ, thành lập các Câu lạc bộ khuyến nông, câu lạc bộ nuôi cá, câu lạc bộ nông dân sản xuất giỏi tại các điểm triển khai xây dựng mô hình trình diễn. Chỉ trong một thời gian ngắn nhiều nông dân giỏi đã ứng dụng thành công phương pháp canh tác giống mới, đã làm được vai trò nòng cốt giúp cho người nông dân trong vùng ứng dụng kỹ thuật để chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo mô hình tại chi, tổ nông dân.
Tuy nhiên sau tách tỉnh, tỷ lệ hộ nghèo trong hội viên nông dân còn khá lớn (chiếm khoảng 28% số hộ nghèo trong toàn tỉnh). Vì vậy, khi được Cấp ủy, chính quyền và các ngành hữu quan ủng hộ, Hội Nông dân tỉnh trực tiếp chỉ đạo hướng dẫn lập các dự án đầu tư theo mô hình để nhân rộng. Trong suốt quá trình nông dân thực hiện dự án theo mô hình, Hội tổ chức nhiều đợt kiểm tra thẩm định lại những dự án còn khó khăn, để giúp hộ nghèo phát huy nội lực vươn lên sản xuất.
Triển khai thực hiện phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa mới tại khu dân cư, BCH Lâm Thời Hội Nông dân tỉnh triển khai cuộc vận động xây dựng gia đình nông dân văn hóa theo 6 tiêu chuẩn; gắn với Cuộc vận động nông dân biết, nông dân bàn, nông dân làm, nông dân kiểm tra.
6 tiêu chuẩn gia đình nông dân văn hóa:
Tiêu chuẩn 1: Phấn đấu xây dựng gia đình nông dân giàu, xoá dần hộ đói nghèo.
Tiêu chuẩn 2: Bảo đảm thực hiện chương trình kế hoạch hoá gia đình. Gia đình nông dân đã có 3 con không sinh thêm.
Tiêu chuẩn 3: Gia đình không có người mù chữ (trong độ tuổi 9 – 50), tích cực học tập văn hoá, khoa học – kỹ thuật.
Tiêu chuẩn 4: Không có trẻ em suy dinh dưỡng, bảo đảm phòng bệnh, bảo vệ môi trường.
Tiêu chuẩn 5: Không có người mê tín, dị đoan, xì ke, trộm cắp.
Tiêu chuẩn 6: Gia đình hoà thuận, bình đẳng.
Phong trào nông dân Cà Mau sau khi chia tách tỉnh đã đạt được những thành tích to lớn và có sự đổi mới đáng kể. Năm 1997, Hội Nông dân đã tổ chức 18.723 cuộc vận động với 298.395 lượt người tham gia, nâng chất cho 23.418 hội viên, 1.572 tổ nông dân đoàn kết hợp tác phát triển sản xuất, 1.200 chi hội và 79/79 cơ sở Hội. Năm 1997, kết nạp mới 5.040 hội viên, nâng tổng số hội viên 84.373 người, sắp xếp lại 109 chi hội/1.461 chi hội; mở 22 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho 1.144 cán bộ cấp huyện và cơ sở Hội. Đã có 22 cơ sở và 50 chi hội xây dựng quỹ hội 21.200.000 đồng, xây dựng quỹ hùm vốn sản xuất 803 triệu đồng.
Ngày 10 tháng 02 năm 1997, BCH Lâm thời Hội Nông dân tỉnh Cà Mau đã ban hành kế hoạch xây dựng Hội và chuẩn bị cho Đại hội đại biểu Hội Nông dân Việt Nam tỉnh Cà Mau.
Đến cuối 1997, đã có 4/7 Hội Nông dân cấp huyện đã đại hội xong, 100% cơ sở Hội đã tổ chức Đại hội nhiệm kỳ 1997 - 2002. Bầu 79 Ban chấp hành mới (71 BCH xã, phường, thị trấn, 8 BCH cơ sở Lâm ngư trường), 991 Ủy viên Ban Chấp hành, 79 Chủ tịch, 85 Phó Chủ tịch, trong đó có 43 Chủ tịch là Ủy viên BCH Đảng bộ xã, thị trấn.
Tháng 11 năm 1997, cơn bão số 5 (Linđa) tràn vào Cà Mau và một số tỉnh Tây Nam Bộ, gây tổn thất hết sức nặng nề. Hàng ngàn nhà dân bị sập và tốc mái, hàng ngàn miệng đáy bị cuốn trôi, 891 tàu thuyền bị chìm và mất tích, 1.292 ngư phủ chết và mất tích, 90.000 ha tôm bị hư hại…
Người dân Cà Mau, sau cơn bão đã được sự tiếp sức của cả nước, của Đảng và Chính phủ, của các tỉnh bạn cùng với nỗ lực của bản thân, từng bước vươn lên khắc phục khó khăn do thiên tai gây ra để tiếp tục sản xuất, ổn định đời sống. Các cấp Hội Nông dân trong tỉnh đã quyên góp vận động 165 triệu đông, 241 gịa lúa, 20.267 kg gạo, 3.640 cây gỗ, 10.450 tàu lá, 1.413 ngày công để giúp đỡ các gia đình bị tổn thất do bão Linđa gây ra…
Ngày 11 tháng 12 năm 1997, Đảng bộ tỉnh long trọng tổ chức Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ XI. Sau Đại hội Đảng bộ tỉnh, Hội Nông dân tỉnh tích cực chuẩn bị Đại hội. Từ tháng 01 năm 1998 đến tháng 6 năm 1998, Hội Nông dân cấp huyện và thị xã tiến hành Đại hội đại biểu nhiệm kỳ 1998 – 2003 theo đúng hướng dẫn của Tỉnh và Trung ương.
Ngày 01 và 02 tháng 7 năm 1998, tại Hội trường Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau, BCH Lâm thời Hội Nông dân tỉnh tổ chức Đại hội Đại biểu Hội Nông dân Việt Nam tỉnh Cà Mau lần VI nhiệm kỳ 1998 – 2003. Với chủ đề hành động “Xoá đói, giảm nghèo, nông dân giàu, nông thôn mạnh” Đại hội đã xác định mục tiêu trong nhiệm kỳ là: “Đoàn kết, dân chủ, cần kiệm, hợp tác phát triển sản xuất, xoá đói giảm nghèo, nông dân giàu, nông thôn mạnh”.
Báo cáo tổng kết hoạt động của Hội Nông dân tại Đại hội đã nêu bật thành tích của nông dân và công tác xây dựng tổ chức Hội (khi tỉnh Cà Mau được tái lập) và đánh giá kết quả việc thực hiện nghị quyết Đại hội V của Hội trên địa bàn tỉnh Cà Mau.
Về tổ chức Hội Nông dân trong tỉnh và BCH Lâm Thời tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo phong trào nông dân thực hiện Nghị quyết Đại hội V, cơ quan Hội cấp tỉnh đã nhanh chóng ổn định, kịp thời triển khai các nhiệm vụ trọng tâm của địa phương.
Sau khi tái lập, Nông dân trong tỉnh chiếm 83%. Phong trào nông dân đã đạt được những thành tích to lớn. Nổi bật là trên lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, diện tích hè thu tăng gấp 5 lần so với năm 1996 đạt 40.019 ha/222.983 ha canh tác lúa; Tổ chức Hội đã phối hợp với các Trung tâm khuyến nông, khuyến ngư thuộc Sở Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, Sở Thủy sản tập huấn cho 36.000 cán bộ Hội và hội viên nông dân về kỹ thuật sản xuất, chăn nuôi.
Nhiều địa phương, hội viên nông dân tập trung thay giống, đổi giống sản xuất giống lúa mới, thay đổi cơ cấu mùa vụ, sản xuất theo hướng thâm canh, luân canh, tăng vụ như: Trí Phải (Thới Bình) sản xuất 2 - 3 vụ lúa; Khánh Hưng (Trần Văn Thời) luân canh lúa, màu, cá; Thanh Tùng (Đầm Dơi) lúa, cá, vườn; Tân Hưng (Cái Nước) lúa, tôm; Lâm ngư trường 184 (Ngọc Hiển) tôm, rừng; Lâm ngư trường 30/4 (U Minh) rừng - cá; phường 6 (thị xã Cà Mau), Khánh Lâm (U Minh), Lương Thế Trân (Cái Nước) mô hình VAC… Hình thành các tiểu vùng sản xuất kết hợp nuôi trồng thủy sản – trồng lúa; trồng rừng - nuôi tôm;ngư dân ven biển vừa khai thác biển vừa sản xuất nông nghiệp và làm dịch vụ…
Nhận thức sản xuất theo mô hình hợp tác có sự chuyển biến, Hội tập trung củng cố nâng chât 4.357 tổ nông dân đoàn kết hợp tác phát triển sản xuất (gọi tắt là tổ nông dân sản xuất) để làm cầu nối hỗ trợ nông dân vay vốn ngân hàng và là địa điểm tập huấn kỹ thuật sản xuất, số lượng từ 15 – 30 hộ/tổ, đến cuối năm đã tập hợp 130.000 hộ vào tổ nông dân sản xuất; hợp tác làm ăn theo mô hình và liên kết vay vốn, nhiều tổ hoạt động có hiệu quả như: Lâm ngư trường 30/4 (U Minh); xã Khánh Lâm (U Minh) có tổ 2 (ấp 2); xã Đông Thới (Cái Nước) có tổ số 2 ấp Khánh Tư; tổ Nông dân ấp Lung Vinh (Đầm Dơi). Ở 1 số địa phương nhiều nghề truyền thống được tổ nông dân sản xuất khôi phục như: nghề nuôi cá đồng, nghề đan lát, dệt chiếu, đã tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người dân
Trong toàn tỉnh, Hội Nông dân đã huy động được 5 tỷ đồng vốn giúp hội viên nông dân sau cơ bão. Trong 2 năm (1997 – 1998) đã trợ giúp 7.169 hộ nghèo gay gắt, 7.820 tấn lúa, 159 tấn gạo; 529.195.000 đồng, 1.618 ngày công lao động, cho 3.037 hộ mượn 16,820 tấn lúa, 33,92 tấn gạo và hơn 100 triệu đồng. Những nông dân tiêu biểu của phong trào này là ông Triệu Công Khanh (Cái Nước) cho 20 hộ mượn 600 giạ lúa, ông Chín Xù (Xã Lợi An – Trần Văn Thời) cho ứng trước 4 tấn cá giống giúp các hộ nông dân khó khăn để sản xuất… Phong trào nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi vượt khó thoát nghèo làm giàu chính đáng đã diễn ra hết sức sôi nổi. Tỉnh đã có gần 1 ngàn hộ nông dân sản xuất giỏi các cấp, là lực lượng nòng cốt trong phong trào, trở thành điển hình tiêu biểu được nhân rộng như: ông Huỳnh Kim Tuyết xã Khánh Hưng (Trần Văn Thời); ông Võ Văn Đời, Lâm Ngư Trường 184 (Ngọc Hiển); ông Trần Ngọc Thành, xã Thới Bình (huyện Thới Bình).
Tuy vậy, số hộ nông dân đói nghèo còn khá cao chiếm 17,7% (so với tỷ lệ hội nghèo chung của tỉnh), hộ không có đất và thiếu đất sản xuất chiếm 15,3%, chủ yếu là đồng bào Khmer. Tình trạng phá rừng, bửa đập đưa nước mặn vào ruộng trồng lúa để nuôi tôm có xu hướng gia tăng ở nhiều nơi: Thới Bình, U Minh, Đầm Dơi… Sau cơn bảo số 5 tuy được Chính phủ đầu tư vốn cho tỉnh, hỗ trợ ngư dân đóng mới tàu thuyền khai thác xa bờ, nhưng nhìn chung tàu thuyền chủ yếu công suất nhỏ, trình độ đánh bắt còn hạn chế khai thác gần bờ; nuôi tôm theo phương pháp truyền thống là chủ yếu.
Phong trào thủy lợi gắn lộ giao thông ở nhiều địa phương phát triển mạnh; với phương châm “Nhà Nước và Nhân dân cùng làm”. Điển hình là nông dân huyện Trần Văn Thời đã đóng góp 7 triệu/lượt ngày công, sên vét 13,5m3 đất kinh mương thủy lợi, thực hiện 794 công trình thủy lợi vừa và nhỏ; hầm 65.000m3 đất đỏ, nâng cấp 783.00m lộ xóm ấp, xây dựng, sửa chữa 2.874 cầu ván đôi. Các công trình thủy lợi, làm cầu, làm lộ nông thôn, hội viên nông dân toàn tỉnh đóng góp tính ra giá trị hơn 60 tỷ đồng. Các xã có phong trào giao thông nông thôn tiêu biểu như: Tân Hưng, Hoà Thành, Thanh Tùng…Chương trình kéo điện về nông thôn đến cuối năm 1998 có 25/72 xã, phường, 15% số hộ dân đã có điện sử dụng.
Hội Nông dân các cấp đã tích cực tuyên truyền, vận động đóng góp vào các phong trào chung như: Phát triển văn hoá giáo dục, xây dựng ấp, khóm văn hoá, xây dựng quỹ đền ơn đáp nghĩa, xây dựng gia đình nông dân mới. Phát huy quyền làm chủ theo hướng “Nông dân biết, nông dân bà, nông dân làm, nông dân kiểm tra” trong thực hiện Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở phù hợp với các phong trào của Hội.
Công tác tổ chức Hội củng cố tổ chức ở những đơn vị yếu, ít hội viên. Sau tái lập tỉnh, tỉnh Cà Mau có 7 đơn vị Hội Nông dân cấp huyện, 5/7 chủ tịch Hội là huyện ủy viên, BCH cấp huyện, thị 129 Ủy viên (có 8 nữ), cơ quan hội có từ 3 – 5 cán bộ chuyên trách; 79 đơn vị cơ sở (71 xã, phường, thị trấn và 8 cơ sở Hội trong Lâm ngư trường), BCH cấp cơ sở có 991 ủy viên, có 43 cấp ủy xã làm chủ tịch hội, xã có 1 đến 2 cán bộ chuyên trách; xây dựng mới 1.503 chi hội ngành nghề; kết nạp 6.673 hội viên mới, nâng tổng số lên 86.000 hội viên.
Báo cáo tại Đại hội Đại biểu Hội Nông dân tỉnh lần thư VI nhiệm kỳ (1998 – 2003), đã nêu: Hoạt động của Hội đã đạt những thành tích quan trọng: tiếp tục đổi mới cả nội dung và phương thức, cán bộ Hội có sự nâng cao về trình độ nghiệp vụ, hoạt động của Hội hướng đến lợi ích thiết thực của nông dân.Và đã chỉ ra những yếu kém trong hoạt động Hội như: sinh hoạt thiếu thiết thực, thiếu tính hấp dẫn, cho nên Hội mới chỉ tập hợp được 54,5% so với tổng số hộ dân ở nông thôn. Đội ngũ cán bộ Hội gần như chưa được đào tạo cơ bản, hoạt động chủ yếu bằng kinh nghiệm, trình độ văn hóa nhìn chung còn rất hạn chế.
Bên cạnh đó còn một số tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước ở cơ sở nhận thức chưa đúng vai trò, chức năng của Hội, thiếu sự quan tâm lãnh đạo các phong trào do Hội phát động. Nhiều tổ chức cơ sở đội ngũ cán bộ Hội còn yếu và không ổn định; chậm đổi mới nội dung hoạt động, nhiều nơi lúng túng thiếu tính chủ động. Cá biệt có nơi Hội không chú ý đến lợi ích của nông dân khi bị xâm hại. Phong trào nông dân phát triển không đều, không liên tục, BCH Hội ở địa phương chưa quan tâm đến công tác sơ tổng kết, rút kinh nghiệm, xây dựng mô hình. Công tác nắm tâm trạng, nguyện vọng của nông dân còn yếu.
Tâm trạng và nguyện vọng chung của nông dân địa phương trong giai đoạn này chủ yếu mong muốn nâng cao trình độ sản xuất, được vay vốn với lãi suất thấp; đừng để tư thương ép nông dân về mua bán nông sản; lao động có thêm việc làm và có thêm thu nhập, con cái được cắp sách đến trường; băng khoăn về tệ nạn xã hội (trộm cắp, cờ bặc, số đề) đang lan về nông thôn. Ở nông thôn hộ cầm cố đât dẫn đến không đất, không nghề phải làm thuê, làm mướn ngày một nhiều, nông dân nhận khoán đất rừng được chính quyền cấp sổ đỏ. Ở các xã ven biển việc di dân tự do đang là áp lực lớn đối với địa phương.
Đại hội đã thông qua phương hướng nhiệm kỳ 1998 - 2003 và bầu BCH khóa VI gồm 33 ủy viên, Ban Thường vụ 11 ủy viên, Ông Vũ Văn Kiệt (Tư Kiệt) được tái đắc cử làm Chủ tịch BCH Hội Nông dân tỉnh Cà Mau.
Các Phó Chủ tịch: Ông Phan Thanh Hùng (Năm Hùng), Ông Nguyễn Khắc Nhu (Út Nhu), Bà Ngô thị kim Loan và bầu 11 đại biểu đi dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III Hội Nông dân Việt Nam.
Ngày 19 tháng 11 năm 1998, Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ III. Ông Vũ Văn Kiệt (Tư Kiệt), Chủ tịch BCH Hội Nông dân Việt Nam tỉnh Cà Mau được tái đắc cử Ủy viên BCH Trung ương Hội Nông dân Việt Nam.
Sau Đại hội, phong trào nông dân Cà Mau có những chuyển biến hết sức tích cực. BCH Hội tập trung triển khai quán triệt nghị quyết, phát động 3 phong trào thi: Phong trào nông dân thi đua đoàn kết phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo và làm giàu chính đáng; phong trào nông dân thi đua xây dựng nông thôn mới; phong trào nông dân thi đua tham gia giữ vững quốc phòng – an ninh. Các cấp ủy Đảng, đặc biệt là cấp ủy cơ sở quan tâm nhiều hơn đến phong trào nông dân và Hội Nông dân. Các phong trào xoá đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới trong đó có đời sống văn hoá, giao thông, điện, đường, trường, trạm, thực hiện các chính sách xã hội, đền ơn đáp nghĩa, xây dựng nhà tình nghĩa, nhà cho người nghèo, hỗ trợ vùng dân tộc, vùng sâu, phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã hội, tập huấn chuyển giao kỹ thuật mới vào sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp.
Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn chi nhánh tỉnh Cà Mau đã triển khai chính sách cho vay đối với hộ nông dân được giao khoán đất rừng (sổ xanh) ở các Lâm ngư trường được vay vốn. Tỉnh Cà Mau triển khai nhiều chương trình hỗ trợ cho nông dân nghèo và cận nghèo, vùng có đông đồng bào dân tộc như: Vay vốn ưu đãi, thực hiện chương trình 135 của chính phủ, chương trình nước sạch vệ sinh môi trường, hộ nghèo được giảm miễn các khoản đóng góp tại địa phương
Sau khi tái lập, được sự quan tâm của Trung ương, một số công trình trọng điểm được khởi công xây dựng như: Cụm công nghiệp khí - điện - đạm (tại xã Khánh An, huyện U Minh); xây dựng nhà máy chế biến đường (tại xã Trí phải, huyện Thới Bình) cùng với việc hình thành vùng nguyên liệu mía. Năm1999, thị xã Cà Mau được công nhận là đô thị loại 3 và trở thành - Thành phố Cà Mau.
Nông dân ở các vùng lúa - tôm giáp ranh có điều kiện nuôi tôm đã tự ý bửa đập để đưa nước mặn vào ruộng nuôi tôm. Để giữ vững quy hoạch vùng sản xuất lúa theo chương trình ngọt hoá bán đảo Cà Mau, cấp ủy địa phương đã chỉ đạo kiên quyết ngăn không cho người dân bửa đập. Ở một số địa điểm thuộc huyện Đầm Dơi, Cái Nước có sự mâu thuẫn giữa nông dân với cán bộ; trong khi đó một số ít cán bộ, đảng viên ở cơ sở đứng về phía dân, ủng hộ việc bửa đập nuôi tôm đã bị kỷ luật.
Từ thực tiễn tôm - lúa, UBND tỉnh đã trình Hội đồng Nhân dân tỉnh đề nghị Chính phủ cho phép chuyển một số vùng đất trồng lúa kém hiệu quả sang trồng 1 vụ lúa và nuôi tôm trên địa bàn các huyện Đầm Dơi, Cái Nước, Trần Văn Thời và thành phố Cà Mau. Đươc Trung ương đồng ý, nông dân phấn khởi chuyển đổi cơ cấu sản xuất, địa phương huy động được nội lực của nông dân, đầu tư cơ sở hạ tầng tại các vùng chuyển đổi. Quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế một số ngành nghề mới xuất hiện, đặc biệt là ngành dịch vụ phục vụ cho thủy sản như sản xuất con giống, cung ứng thức ăn, thú y thủy sản, thu mua chế biến, xây dựng, cải tạo lại hệ thống thủy lợi, kinh mương dẫn nước, tập huấn, chuyển giao kỹ thuật nuôi tôm là vấn đề bứt xúc của nông dân, Đảng, Chính quyền, Mặt trận, các Đoàn thể tập trung giải quyết sau một thời gian ổn định và tạo điều kiện để nuôi trồng, đánh bắt thủy sản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh sau này. Hội đã phối hợp với các Trung tâm Khuyến nông, Khuyến ngư mở 631 lớp kỹ thuật kỹ thuật nuôi tôm, trồng lúa cho 70.000 nông dân; toàn tỉnh đã phát triển 354 trại tôm giống, 186 trại cá giống, đáp ứng gần 50% nhu cầu giống của nông dân trong tỉnh.
Vùng trồng lúa là nạn ốc bươu vàng hoành hành, sâu rầy phá hoại, giá cả nông sản xuống thấp, sản xuất, đời sống của nông dân gặp nhiều khó khăn, nhưng nhờ giúp đỡ của Nhà nước về giống, vốn và hướng dẫn nông dân diệt ốc bươu vàng (diệt ốc bươu vàng 2,3 triệu kg, 11.700 kg trứng và 4 triệu con chuột). Nhờ sự đoàn kết tương thân, tương ái, vượt khó của nông dân, một thời gian sau tình hình ổn định. Trong cái khó đã xuất hiện những mô hình của nông dân sản xuất đa cây, đa con, cho thu nhập cao, có nhiều hộ xóa được nghèo nổi bật là mô hình trang trại nuôi cá đồng, nuôi cá bống tượng, trồng lúa kết hợp trồng cây ăn trái, trồng rau màu trái vụ ... kết quả nông dân cải tạo 3.000 ha vườn tạp trồng mía, trồng cây ăn trái 1.200 ha (ổi, mận, soài, đu đủ), trồng mới gần 978 ha chuối, trồng 5.600 ha rau màu thời vu, nuôi 925 ha cá đồng, (có 185 ha cá bống tượng), nông dân huyện Thới Bình nuôi 400 con bò thịt. Đã góp phần tạo tiền đề trong việc vận động nông dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng đa cây, đa con, theo đường lối đổi mới của Đảng ta.
Tiếp tục đổi mới và phát huy mạnh mẽ vai trò nòng cốt của Hội, tổ chức, động viên nông dân phát huy nội lực, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Hội Nông dân Việt Nam tỉnh Cà Mau đã phát động trong hội viên nông dân phát huy tinh thần tự lực và tính sáng tạo trong lao động, tập trung phát động, vận động nông dân tham gia 3 phong trào thi đua lớn của Hội, lấy phong trào nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi vượt khó, thoát nghèo, làm giàu chính đáng làm trung tâm để tuyên truyền vận động hội viên, nông dân, xây dựng nhiều mô hình sản xuất giỏi của nông dân; đặc biệt là Hội các cấp coi trọng công việc nêu gương điển hình tiên tiến trong phong trào nông dân và hoạt động của Hội tại cơ sở; Hội Nông dân tỉnh ban hành hướng dẫn việc tổ chức Hội nghị tuyên dương nông dân sản xuất kinh doanh giỏi cấp tỉnh, cấp huyện. Và quy định hàng năm cấp cơ sở phải sơ kết bình chọn và cấp giấy chứng nhận cho nông dân đạt tiêu chuẩn. Đồng thời, Hội Nông dân Việt Nam của tỉnh tăng cường công tác tuyên truyền, định hướng công tác tư tưởng cho cán bộ hội viên, nông dân trong thời kỳ đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả các phong trào thi đua yêu nước, tôn vinh cổ vũ gương điển hình tiên tiến trong các phong trào hành động cách mạng ở nông thôn. Trong chỉ đạo Hội tạo thuận lợi để giúp nông dân về vật chất, tinh thần, động viên nông dân phát huy nội lực vượt khó, vươn lên làm giàu. Cùng với việc tập trung cho sản xuất, Hội chủ động và phối hợp chăm lo đời sống tin thần cho nông dân như: xây dựng gia đình nông dân văn hóa, xây dựng câu lạc bộ sinh đẻ có kế hoạch, tổ chức liên hoan tiếng hát nông dân, tiến hát đồng quê, bóng đá nông thôn, nhà nông đua tài, kết hợp với Hội Nhà Báo tỉnh duy trì nâng cao chất lượng giải báo chí Nông dân, Nông nghiệp, Nông thôn của tỉnh, định kỳ xét tặng kỷ niệm chương vì giai cấp nông dân và tổ chức trao tặng vào ngày 14/10 hàng năm.
Công tác xây dựng Hội được đặc biệt quan tâm, đã tổ chức 30.156 cuộc tuyên truyền phát động cho hơn 931.734 lượt cán bộ, hội viên; 100% ấp, khóm có chi hội (616 ấp, khóm) củng cố 1.481 tổ bổ sung 229 tổ trưởng, củng cố 8 BCH, thành lập Hội lâm thời và tổ chức Đại hội cấp hội cơ sở cho 8 xã mới được chia tách, bổ sung 57 thành viên BCH Hội cơ sở, cấp thẻ 30.443 hội viên. Toàn tỉnh có 83 cơ sở Hội; cơ quan Hội Nông dân cấp huyện, thành phố có từ 5 – 6 cán bộ chuyên trách. Cơ quan Hội cấp tỉnh có 21 biên chế và 4 ban chuyên môn. Các tổ chức Hội tích cực xây dựng quỹ hội, toàn tỉnh có 44 cơ sở xây dựng được quỹ hội với số tiền 128 triệu đồng, 64 chi, tổ hội có quỹ hùn vốn với số tiền gần 2 tỷ đồng và Quỹ hỗ trợ nông dân cấp tỉnh quản lý 518 triệu đồng (trong đó 495 triệu đồng vốn của Trung ương Hội, 23.300.000 đồng vốn của tỉnh Hội).
Năm 1999, thực hiện Nghị quyết liên tịch số 2308 (Nghị quyết liên tịch giữa Hội Nông dân Việt Nam và Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn) giúp nông dân vay vốn không phải thế chấp tài sản thông qua các tổ vay vốn. Hội Nông dân tỉnh cùng với Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn Chi nhánh tỉnh Cà Mau, tham mưu và được Ủy Ban nhân dân tỉnh thống nhất củng cố, xây dựng lại Tổ Nông dân đoàn kết hợp tác phát triển sản xuất lấy tổ làm địa bàn triển khai thực hiện, trong 2 năm Hội đã củng cố lại 1.560 tổ vay vốn theo hướng dẫn và tín chấp cho nông dân vay qua tổ 430 tỷ đồng (59.096 hộ). Hội chủ động xây dựng các chương trình, kế hoạch phối hợp với các Sở, Ngành triển khai các Chương trình, dự án Quốc gia như: khuyến nông, khuyến ngư; nước sạch, vệ sinh môi trường v.v… xây dựng các mô hình trình diễn, tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật cho hội viên, nông dân hàng năm.
Hội nghị nông dân sản xuất giỏi, các cấp Hội đã bình xét 7.580 hộ đạt tiêu chuẩn nông dân sản xuất giỏi 3 cấp (Cấp cơ sở, cấp huyện, cấp tỉnh). 23,068 hộ đạt Danh hiệu gia đình nông dân mới. Hội Nông dân kết hợp với các ban, ngành chức năng duy trì 14 Câu lạc bộ dân số trên 70.000 gia đình thực hiện không sinh con thứ 3 bắng các biện pháp tránh thai. Đến tháng 12 năm 2000, có 109.361 hộ được công nhận đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá, 148 ấp khóm được công nhận ấp khóm văn hoá; 60 trung tâm xã có điện lưới quốc gia, 12 xã có hệ thống nước sạch.
Năm 2000, Chủ tịch nước tặng Huân chương Lao động hạng Nhất cho Hội Nông dân tỉnh Cà Mau, tặng Huân chương lao động hạng Ba cho Hội Nông dân huyện Thới Bình, Trần Văn Thời, Ngọc Hiển. Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen cho 2 cá nhân, 1 đơn vị. Trung ương Hội tặng 2 Bằng khen cho cấp huyện Hội và 122 Bằng khen cho cán bộ Hội. Nhân kỷ niệm 70 năm thành lập Hội, 7/7 Hội cấp huyện tổ chức Hội thi Tiếng hát nông dân và cử đoàn đi thi tiếng hát nông dân cấp tỉnh lần thứ nhất. Cuộc thi viết báo chí về đề tài nông dân, nông nghiệp, nông thôn 30 cá nhân đã đạt giải được BCH Hội Nông dân tỉnh tặng Bằng khen. 748 hộ nông dân được tặng Bằng nông dân sản xuất giỏi; 168 cán bộ hội viên, nông dân được phong tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở, 38 cá nhân đạt Danh hiệu chiến sĩ thi đua cấp tỉnh.
Ngày 15 tháng 12 năm 2000, Bộ Chính trị (khóa VIII) ban hành Chỉ thị 59-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Hội Nông dân Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Phong trào nông dân năm 2000 đã có bước chuyển mạnh mẽ cả nội dung và phương thức. Hội Nông dân các cấp tỉnh Cà Mau đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp đổi mới của Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh, góp phần vào sự nghiệp đổi mới của toàn Đảng, toàn dân ta./.
KẾT LUẬN
Truyền thống cách mạng của Nông dân - Hội Nông dân Việt Nam tỉnh Cà Mau giai đoạn (1930 – 2000) đã hình thành và phát triển cùng với các phong trào chung của tỉnh và trong nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại(1). Lịch sử phong trào Nông dân & Hội Nông dân Việt Nam tỉnh Cà Mau gắn liền với lịch sử Đảng bộ và Quân - Dân Cà Mau từ đấu tranh tự phát đến khi có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và đến cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, đến cuộc cách mạng tháng Tám thắng lợi, tiến tới xây dựng và bảo vệ chính quyền Dân chủ Nhân dân năm 1945. Với 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp tái xâm lược nước ta và 20 năm chống Mỹ cứu nước và hai mươi năm xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa trên quê hương Cà Mau.
Noi gương kiên trung, bất khuất của cha ông, Nông dân Cà Mau đã giữ vững vai trò “Chủ lực quân cách mạng”. Từ dao mác, gậy gộc, đến tầm vông vạt nhọn; từ súng kép, súng ngựa trời, đến lựu đạn, thủy lôi... Nông dân Cà Mau vừa giựt súng địch đánh địch, “Ôm hè bắt hè”, vừa tự chế tạo vũ khí, tự trang bị để chiến đấu đến cùng. Nông dân Cà Mau đã trực tiếp đương đầu với những thế lực hung hãm của thực dân và đế quốc. Trong cuộc đọ sức cực kỳ ác liệt này, dù quân thù có cả “Tàu to súng lớn”, máy bay B52, chất độc hóa học và đủ “Mưu ma chước quỷ” với bao nhiêu kiểu chiến tranh, chiến dịch, chiến thuật; với hành động dã man mổ bụng, ăn gan uống máu người như ở Bình Hưng, Khai Hoang, Rạch Ráng; dù chúng bắt người lương thiện còng xích tù đày tra tấn, hãm hiếp phụ nữ, thủ tiêu, thảm sát..., đưa máy chém uy hiếp khắp nơi... Nông dân Cà Mau quyết không rời tay súng, quyết bám đất giữ làng, quyết đi theo Đảng, quyết tử giành độc lập tự do cho quê hương đất nước.
Lịch sử Hội Nông dân và phong trào nông dân Cà Mau không tách rời lịch sử đấu tranh của Đảng và của dân tộc ở một địa bàn cụ thể. Trung thành với sự nghiệp công - nông liên minh, hợp lực chiến đấu. Trong hòa bình xây dựng và bảo vệ Chủ nghĩa xã hội, nông dân Cà Mau lại phát huy truyền thống của mình, đóng góp to lớn vào công trình đổi mới quê hương dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam ở Cà Mau, từng bước tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hóa nông nghiệp, đi lên Chủ nghĩa xã hội, bằng tất cả ý chí và quyết tâm vươn tới không ngừng.
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Hội Nông dân Cà Mau cổ vũ lực lượng Nông dân hùng hậu của mình, tạo phong phú đa dạng hóa nông nghiệp, hướng nông dân vươn lên sản xuất hàng hóa. Củng cố và phát triển tổ chức vững mạnh, chăm lo giáo dục và bảo vệ đời sống vật chất, tinh thần cho nông dân trong tỉnh, đời sống lành mạnh đó ngày càng được cải thiện. Dân chủ ở cơ sở ngày càng phát triển cao. Thi đua sản xuất giỏi, kinh doanh giỏi cùng với truyền thống đoàn kết tương thân, tương ái, giúp đỡ lẫn nhau, vượt khó, thoát nghèo vươn lên làm giàu, xây dựng nông thôn mới... đã từng bước xây dựng Giai cấp nông dân vững về tư tưởng, mạnh về tổ chức và hành động; nâng cao chất lượng phong trào trong thời kỳ mới, cùng nông dân viết tiếp truyền thống cách mạng, quyết tâm xây dựng quê hương Cà Mau giàu đẹp văn minh./.
(1);(2) Số liệu tính đến năm 2011
(3) Nghiên cứu địa bạ Triều Nguyễn – Hà Tiên - Nguyễn Đình Đầu trang 141.
(1) Sách đã dẫn trang 131.
(3) Mộ của hai ông lúc đầu chôn tại khu vực Cầu quay cũ thị xã Cà Mau, sau này con cháu di tán về xã Hòa Thành.
Đỗ Thừa Luôn tên thật Long, quê ở Lai Vung, tỉnh Sa Đéc (Đồng Tháp). Đầu năm 1872 ông cùng em là Đỗ Thừa Tự (Ngươn) đưa các chiến hữa và súng thần công của nghĩa quân chống Pháp từ miệt trên vào U Minh xây dựng căn cứ và phát động cuộc khởi nghĩa chống pháp tại ven rừng U Minh, Rạch Cái Tàu, giáp An Biên- Rạch Giá. Hai ông được sự ủng hộ của cư dân. Đồng tâm hiệp lực chống Pháp có ông Hai Khoa, ông Hai Thầy Tu và nhiều dũng sĩ khác. Nghĩa quân U Minh tổ chức qua xiêm mua khí giới để trang bị, việc này giao cho một người gốc Hải Nam tên là Lồng Ban. Ghe chài tải vũ khí vừa về đến vàm sông ông Đốc bị giặc phát hiện, tịch thu hết. Chẳng chịu bó tay, lực lượng ông Hùm, ông Tướng (tức hai Thủ lĩnh họ Đỗ) kéo quân về trụ tại Rạch Nhỏ và Rạch Lớn, hàn 2 cái cản ngăn trận tàu tây. Nơi đây cuộc kháng chiến không cân sức diễn ra ác liệt, hai ông và nhiều chiến binh khác hi sinh.
(2) “Năm 1983, ta nhổ được hai cây cọc kè to quá ôm, dài 16m ở Rạch Hàn lớn khiến người xem không ngăn được xúc động trước ý chí phi thường của ông cha ta trong qúa trình chiến đấu chống xâm lăng” – Sách đã dẫn – trang 13.
(2) Phong trào THANH NIÊN CAO VỌNG do chí sĩ NGUYỄN AN NINH sáng ập năm 1922, lấy báo CHUÔNG RÈ (La Cloche Fe1lec) làm diễn đàn… thu hút hàng vạn thanh niên vào Hội, chống pháp xâm lược, đòi Độc Lập- Tự Do-Dân chủ…
(1) Ông Trần Văn Giỏi chú ruột đồng chí Trần Văn Thời, thân sinh ra đồng chí Trần Văn Yến, Trần Văn Nhung… gia đình từng nuôi chứa đồng chí Lê Duẩn trong thời kỳ đầu cách mạng miền Nam (1955 – 1957).
(1) (Hoàng Phố là trường đào tạo quân sự của Quốc dân Đảng Trung Quốc do các cố vấn Liên Xô giảng dạy).
(2) Đồng chí Huỳnh Quảng là hội viên Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội và là đảng viên Đảng Cộng sản đầu tiên người ở Cà Mau. Năm 1931, đồng chí bị giặc bắt tra tấn vô cùng dã man. Đồng chí bị chết khi địch đưa vào nhà thương Chợ Quán (Sài Gòn).
Ngày 14 tháng 7 năm 1927 đồng chí Huỳnh Quảng cùng Lê Văn Sô, Nguyễn Văn Tây, Nguyễn Văn Phát, Nguyễn Văn Cứng, Trần Ngọc Diệp, Trần Văn Thạnh, Nguyễn Văn Chiểu, Đặng Văn Lý. Tất cá 9 người đã chốn xuống tàu “Đại Trung Hoa”rời cảng Sài Gòn sang Trung Quốc. Cuối tháng 8 năm ấy các anh được đồng chí Tô Hồng Mậu đón về trụ sở TNCMĐCH ở Quảng Châu.
(1) Năm 1905, thực dân Pháp cho khoảng 10 hộ dân ra ở Hòn Khoai như: Nguyễn Văn Trước, Lê Văn Hành, Nguyễn Văn Nhân, Bông Văn Chén, Đỗ Văn Thanh. Phan Ngọc Hiển ra Hòn Khoai dạy học, ở nhà của Lê Văn Hành và Nguyễn Văn Suốt. Những người làm việc cho địch được Phan Ngọc Hiển giác ngộ là Nguyễn Văn Cự (điện đài), Đỗ Văn Sến (gác đèn), Nguyễn Văn Đắc (gác đèn), Lê Văn Biên (thủy thủ) Nguyễn Văn Đình (thợ hồ, lái tàu), Đỗ Văn Quảng (thủy thủ)…
(2) 10 liệt sĩ Hòn Khoai: Phan Ngọc Hiển, Quách Văn Phẩm, Ngô Kinh Luân, Nguyễn Văn Đắc, Đỗ Văn Sến, Nguyễn Văn Cứ, Nguyễn Văn Đình, Lê Văn Biên, Lê Tồn Khuyên, Nguyễn Văn Cẩn.
(1) Tuần lễ vàng từ ngày 17 đến 24/9/1945
(1) Lịch sử phong trào nông dân và Hội Nông dân Việt Nam – trang 157)
(2) Tháng 11/1945, Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố tự giải tán và hoạt động bí mật. Về công khai mang danh nghĩa Hội Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác.
(1) Sau khi bầu Quốc hội, Quốc hội sẽ bầu Chính phủ chính thức, hợp hiến và hợp pháp thay cho Chính phủ cách mạng lâm thời khi cướp chính quyền. Đây là nước cờ đặc biệt có ý nghĩa đối với cuộc cách mạng Việt Nam.
(1) Trong kháng chiến chống Pháp ta lấy tên hai chiến sĩ hy sinh đặt cho một xã mới tách ra gọi là xã Biển Bạch
(1) Các con ông Thôi: Đặng Tế Thế, Đặng Xuân Kỳ, Đặng Trung Hầu.
(1) chủ trương thực hiện giảm tô, giảm tức 7/1949
(1) Những số liệu trên là của tỉnh Bạc Liêu (sau này là tỉnh Cà Mau - Bạc Liêu)
(1) (Nguyeãn Thò Ñöôïc, saùch ñaõ daãn, trang 305).
(1) Nay là Cà Mau-Bạc Liêu
(1) Tế cờ là một hình thức tử hình rất dã mang (chặt đầu, đạp người đến chết ...)
(1) Ngô Văn Sở, tên 1 trong 2 tiểu đoàn chủ lực của ta thành lập đầu tiên ở Cà Mau- Tây Nam Bộ, ngụy trang theo hệ giáo phái hòa hảo chống Mỹ-Diệm thời kỳ “vũ trang hỗ trợ chính trị”. NGÔ VĂN SỞ là danh tướng Tây Sơn. Tháng 11/1787 SỞ cùng Phan Văn Lân theo Vũ Văn Nhậm kéo quân ra bắc hỏi tội Nguyễn Hữu Chỉnh. Giết Chỉnh xong, Nhậm chuyên quyề, tỏ ý chống BẮC BÌNH VƯƠNG-NGUYỄN HUỆ, nên Nhậm chịu chung số phận với Chỉnh. Ngô Văn Sở được cất lên làm đại tư mã thay Nhậm cầm quyền trấn thủ Thăng Long.
(1) TIN TỨC MẬT số 3217/QV/2/M ngày 03/11/1961 của tỉnh trưởng An Xuyên PHẠM VĂN ÚT gửi bộ trưởng Nội vụ Sài Gòn, ghi rõ: 8 giờ sáng ngày 21 /11/1961, 3 tàu sắt- 1LCM và 2LCVP của bộ chỉ huy chiến thực sư đoàn 21/BB khởi hành tại tỉnh lỵ, hành quân đến địa điểm WR 992-370 xã Khánh An thuộc quận Thới Bình, để tìm 2 chiếc FOM của tỉnh bị “Phiếm cộng” cướp đoạt ngày 14/10/1961. Tìm không được tông tích 2 ROM bị mất, mà 3 tàu sắt lại bị tấn công bằng thủy lôi, giựt chìm 2 tàu sắt LCVP giữa dòng sông. Giao tranh ác liệt giữa chiếc tàu còn lại LCM với quân du kích. Sau đó 5 phút, đoàn tàu của phó tỉnh trưởng nội an đến tiếp ứng, chống trả với Việt Cộng càng mãnh liệt hơn. Trận này, thiệt hại của ta 1 trung sĩ biệt động quân tử thương (vớt được sát) 3 binh sĩ hải quân bị thương. Ngày 29/10/1961, 2 tàu LCVP được trục lên và đưa về Ty Công Chánh An Xuyên sửa chữa.
Còn 2 FOM AX1 và AX2 ngày 14/10/1961, bảo vệ tàu đò THUẬN HÒA chở lương thực tiếp tế cho Dinh Điền Khánh Lâm, lúc trở về đến ấp Khánh Hiệp , điểm WR 011-351 xã Khánh An, bất thần bị Việt Cộng phục kích dùng Lance-bombe và súng trường tấn công 2FOM bị rạch GIỒNG ÔNG ta bị mất 2 tàu AX 1 và AX2. vũ khí:4 trung liên BREN số BE 2089,V9170,V1454 và V8492. 1 súng trường Garan M1 số 4751151… (một số vũ khí khác) Nhân mạng: 15 người tử thương gồm có: 1- Trưông Kỳ Mồng, trung sĩ BA. Chỉ huy số quân hộ tống…
(1) Trước tình hình tiến công của ta: Harryfell Tư lệnh Mỹ ở Thái Bỉnh Dương báo động nguy cơ chính ở Nam Việt Nam là một cuộc hoạt động lật đỗ tại chỗ. Ngày 8/11/1960 John Kennnedy đắc cử tổng thống thay đổi chiến lượt “trả đủa ồ ạt” bằng “phản ứng linh hoạt” hòa hoản với Liên Xô và các nước Đông Aâu, lũng đoạn, chia rẽ, làm suy yếu phe XHCN, tập trung đánh bại phong trào giải phóng dân tộc bằng loại chiến ttranh dưới mức hạn chế (dù vẫn chuẩn bị cho chiến tranh cục bộ và chiến tranh hạt nhân) với chiến lượt này Mỹ MAAG, vũ khí, đô-la và tuyên bố chính thức đi vào cuộc chiến tranh đặc biệt ở Việt Nam, giành thắng lợi quyết định trong vòng 18 tháng.
. Bình Hưng từ năm 1958 -1963 chúng thảm sát tất cả 1.675 người.
(1) Jonh. F. Kennedy: sinh năm 1917. là tổng thống thứ 35 của nước Mỹ năm 1961 đến 1963. nắm quyền tối cao đối với chính sách Mỹ trong thời kỳ hoạt động du kích cộng sản đang lên mạnh ở Việt Nam và suy tàn của chế độ Diệm. Bị ám sát ngày 22/11/1963, ba tuần sau khi Diệm chết.
(1) Ngày 08 tháng 12 năm 1962 địch sử dụng 3 máy bay trực thăng vũ trang HU 1A và 50 máy bay đổ quân 47 đánh phá vùng Cái Bát, Rạch chèo, Tân Thành… thuộc huyện Cái Nước. Đồng chí Nguyễn Việt Khái (đoàn viên thanh niên lao động-du kích xã Tân Hưng Tây) đã dùng súng carbin với 8 viên đạn, bắn rơi tại chỗ 2 máy bay trực thăng CH47 và bắn cháy 2 chiếc khác, bay được một khoảng mới rơi xuống. Đồng chí Lê Thị Xuyến, Bí thư Chi bộ xã Tân Hưng Tây, huy động du kích và dân công khéo léo vượt máy dòng canh giữ của địch, thu xác trực thăng về công trường xã, huyện lấy vật liệu từ máy bay giặt sản xuất vũ khí. Đồng chí Nguyễn Việt Khái được tuyên dương anh hùng lực lượng vũ trang sau hi sinh trong đợt bao vây bứt rút biệt khu khai hoang. Về ngày Nguyễn Việt Khái Hạ trực thăng có sách ghi ngày 6/12/1962-có sách ghi 18/2/1962 chúng tôi chưa khảo dị đối chiếu.
(1) Hồ Chí Minh tuyển tập, tập 2 - Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội, 1986; trang 364, 336, 367 368 .
(1) Thất bại liên tục, Mỹ leo thang chiến tranh, cho khu trực hạm Ma-đốc (thuộc hạm đội 7 của Mỹ bắn phá tàu tuần tra của hải quân ta ngày 1/8/1964 – và mỹ vu khống “Hạm tàu Mỹ bị tàu phóng ngư lội của ta tiến công”. Tổng thống Mỹ Giôn-xơn ra lệnh cho máy bay ném bom “trả đủa”. Đó là nội dung của SỰ KIỆN VỊNH BẮC BỘ do mỹ bịa ra để gây chiến tranh phá hoại miền Bắc nước ta…
(1) Hội quán TN là Nhà văn hóa Trung tâm hiện nay.
(1) Thắng lợi Tết Mậu thân của ta là một sữ kiện bi thảm của Mỹ: Wetmoreland, tư lệnh quân Mỹ ở Việt Nam, bị Johdson cách chức ngày 22 tháng 3 năm 1968, cử A-bram sang thay. Cách chức tư lệnh Thái Bình Dương (Đô đốc Sáp) chuyển S.McNAMARA Bộ trưởng Bộ Quốc phòng làm Thống đốc Ngân hàng. Tổng thống Johnson bị buộc tuyên bố xuống thang chiến ttranh và không tái ứng cử tổng thống: “Tôi nhận đi bước đầu tiên xuống thang chiến tranh. Chúng ta giảm bớt đáng kể ngay trườc mắt, mức độ xung đột hiện nay và chúng ta sẽ làm điều đó một cách đơn phương và làm ngay lập tức. Chính vậy, tôi không tìm kiếm và không chấp nhận sự đề cử của đảng tôi ra ứng cử Tổng thống một nhiệm kỳ nữa”.
(Bài viết về tết mậu thân của nhà báo Mỹ Oberdoifer)
(1) Trích Lịch sử Đảng bộ Cà Mau, trang 315.
(2) Trích Lịch sử Đảng bộ tỉnh Cà Mau, trang 325.
(1) Ngày 29/3/1973, Tổng thống Mỹ Richard Nixon tuyên bố kết thúc chiến tranh Việt Nam. Hoàn thành triệt thoái quân đội chiến đấu Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam. Giải tán bộ tư lệnh quân viện trợ Mỹ. Theo Mỹ công bố, từ đầu năm 1961 đến ngày ngừng bắn có hiệu lực 28 tháng 01 năm 1973, quân Mỹ chết 46 nghìn người trong chiến đấu, chết 1 vạn người vì tai nạn, bị thương 30 vạn. Binh lực đã huy động 2.500.000 người. Tổng thống Nixon Quốc hội Mỹ thỏa thuận ngừng hoạt động quân sự Mỹ trên toàn dông dương từ ngày 15 tháng 8 năm 1973 (Niên biểu chiến tranh Việt Nam)
(1) Chỉ thị số 11/CT-TU, ngày 16/04/1979, về việc phát động chiến dịch ở mục tiêu động viên cao nhất sức người, sức của, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp và cải tạo sản xuất nông nghiệp trong tình hình mới.
(1) Theo báo cáo năm 1983
(1) Thời kỳ tỉnh Minh Hải (Cà Mau – Bạc Liêu) sau khi TĐ,HTX tan rã, Hội viên bỏ sinh hoạt trên 50%
(1) Số liệu của thời kỳ tỉnh Minh Hải (Cà Mau – Bạc Liêu)